HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

LK WEBSITE GIÁO DỤC

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 240

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3936

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 207720

LẬP TÀI KHOẢN GỬI TIN BÀI

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức- Sự kiện

Tổng hợp chuyên đề về giáo viên chủ nhiệm lớp

Thứ sáu - 27/03/2015 22:44 | Số lượt đọc: 7720
MỤC LỤC Chuyên đề 1: NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LÀ CHIẾC CẦU NỐI ĐA CHIỀU.. 2 Chuyên đề 2: QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC.. 4 Chuyên đề 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA “BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG” CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM... 13 Chuyên đề 4: “GIẢI PHÁP CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG VIỆC NGĂN NGỪA HỌC SINH ĐÁNH NHAU MANG TÍNH BẠO LỰC”. 16 Chuyên đề 5: SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG NHÀ TRƯỜNG; HỘI CHA MẸ HỌC SINH, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH. 21 Chuyên đề 6: SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN, TRONG NHÀ TRƯỜNG; HỘI CHA MẸ HỌC SINH, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH.. 24 Chuyên đề 7: PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC. 29 Chuyên đề 8: SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG NHÀ TRƯỜNG; HỘI CHA MẸ HỌC SINH, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH.. 32 Chuyên đề 9: PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC 34 Chuyên đề 10: PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỈ LUẬT TÍCH CỰC 38 Chuyên đề 11: BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỌC SINH.. 42 Chuyên đề 12: BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG.. 45


Chuyên đề 1:  NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM  LÀ CHIẾC CẦU NỐI ĐA CHIỀU

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
                       I.            Vai trò của giáo viên chủ nhiệm:
Cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm 2010, tại Hải Phòng và TP.HCM đã diễn ra Hội thảo về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông. Hội thảo có sự góp mặt của gần 300 đại biểu. Có năm nội dung chính về công tác chủ nhiệm được đưa ra bàn thảo tại hội thảo này:
+ Đặc điểm, những khó khăn, thuận lợi của công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay;
+ Các yêu cầu đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp (nội dung, phương pháp và kỹ năng thực hiện công tác chủ nhiệm của giáo viên ở trường phổ thông);
+  Kinh nghiệm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp;
+ Phương hướng, giải pháp tăng cường năng lực làm công tác chủ nhiệm cho giáo  viên ở trường phổ thông;
+ Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc triển khai có hiệu quả phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Đây là hội thảo thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân. Hội thảo này đã có ý nghĩa quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.
Từ tổng kết của hội thảo này, chúng ta có thể khẳng định: Giáo viên chủ nhiệm có một vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng cũng như hình thành nhân cách cho học sinh.  Vai trò của giáo viên chủ nhiệm khi tham gia công tác giáo dục, không chỉ là nắm được những chỉ số của quản lý hành chính đơn thuần, như tên, tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình của học sinh, trình độ học sinh về học lực, hạnh kiểm mà còn phải dự báo xu hướng tổ chức giáo dục, dạy học phù hợp điều kiện khả năng của từng học sinh.
        II.   Vai trò của sự liên kết nhà trường - gia đình - xã hội.
Nhà trường, gia đình và xã hội đều có vai trò trong giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh. Các phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của con người nói chung, học sinh nói riêng được hình thành và phát triển trong các môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội. Lúc sơ sinh, vai trò của gia đình là chủ đạo; tuổi học mầm non, gia đình và nhà trường góp phần quyết định; tuổi học phổ thông (từ tiểu học tới trung học) vai trò của nhà trường, gia đình và xã hội càng quan trọng. Để làm tốt việc giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh THPT, giáo viên chủ nhiệm phải kết hợp chặt chẽ với gia đình.
Nhìn một cách toàn diện thì nhà trường, gia đình và xã hội có vai trò giáo dục khác nhau đối với sự hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của học sinh. Trong mối quan hệ đó, nhà trường được xem là trung tâm – nơi chủ động định hướng trong việc phối hợp với gia đình và xã hội. Nhà trường là môi trường giáo dục toàn diện nhất, là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giáo dục chuyên nghiệp nhất. Cho nên nhà trường là lực lượng giáo dục có hiệu quả nhất, hội tụ đủ những yếu tố cần thiết để có thể huy động sức mạnh giáo dục từ phía gia đình và xã hội.
Do đó, việc phát huy sức mạnh giáo dục của mối liên kết bộ ba nhà trường - gia đình - xã hội là một điều vô cùng cần thiết cho công tác giáo dục. Người giáo viên chủ nhiệm nếu không ý thức điều này thì rất khó hoàn thành nhiệm vụ.
          III.      Yêu cầu của thực tiễn giáo dục hiện nay
Gần đây, bạo lực học đường xuất hiện ở nhiều nơi và có xu hướng gia tăng. Một loạt Clip học sinh đánh nhau được tung lên mạng, nhiều ý kiến cho rằng việc giáo dục đạo đức cho học sinh đang bị buông lỏng. Để hạn chế thực trạng này, cần đến sự hợp sức từ nhiều phía: gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó vai trò của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng. Trong lĩnh vực giáo dục, người thầy không chỉ có lòng  yêu nghề mến trẻ  đem hết nhiệt tình để truyền đạt kiến thức cho học sinh mà quan trọng hơn nữa là phải lưu tâm đến việc hình thành nhân cách cho học sinh. Công việc trồng người ấy không hề dễ dàng. Nó đặt ra nhiều thách thức cho giáo viên chủ nhiệm.
Lúc này, trước nhiều lời cảnh báo về nhân cách học sinh thời hiện đại, mọi người quan tâm nhiều hơn vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Vì vậy, người giáo viên chủ nhiệm cần tìm lời đáp án cho câu hỏi: Phương pháp chủ nhiệm như thế nào mới là hiệu quả?
Trong một bài báo cáo của cô giáo Đàm Thị Kim Hoa (Giáo viên Trường THPT Chuyên Lương Văn Chánh - Phú Yên), tôi đã tìm được một bài học kinh nghiệm đáng quý. Theo cô Hoa,  người giáo viên chủ nhiệm cần tạo được mối liên hệ mật thiết giữa giáo viên với học sinh, giữa giáo viên với gia đình, giữa gia đình với nhà trường. Đó là phương pháp thực sự cần thiết nhằm tạo điều kiện cho mỗi học sinh được phát triển toàn diện cả về tri thức lẫn nhân cách.
Từ kinh nghiệm của cô giáo Kim Hoa, tôi tìm ra lời đáp án cho công tác chủ nhiệm: Người giáo viên chủ nhiệm là chiếc cầu nối đa chiều
                    PHẦN 2 : NỘI DUNG
                I.  Đặc điểm tình hình:
                 1/Thuận lợi: 
- Công tác chủ nhiệm ở một lớp chuyên, tại một trường chuyên của tỉnh là thuận lợi lớn nhất đối với một giáo viên trẻ như tôi. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sát công tác chủ nhiệm của các giáo viên trẻ.
- Đoàn trường, chi đoàn giáo viên, các hiệp hội, câu lạc bộ của trường cũng luôn tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên chủ nhiệm
- Sự cộng tác chặt chẽ từ phía giáo viên bộ môn.
- Học sinh lớp chuyên khá ngoan, có ý thức và chịu lắng nghe.
 - Là giáo viên dạy văn, tôi có nhiều thời gian trên lớp để nhanh chóng  nắm bắt tình hình lớp và kịp thời uốn nắn học sinh. Một tuần có ít nhất 4 lần tôi trực tiếp có mặt tại lớp. Ngoài ra, môn văn có đặc trưng của một môn học khoa học xã hội, vì vậy, trong lúc truyền thụ kiến thức chuyên môn, tôi cũng có nhiều cơ hội hơn cho công tác rèn luyện cách sống cho học sinh.
                  2/ Khó khăn:
- Học sinh ở huyện lên học và ở ký túc xá. Các em xa gia đình nên có nhiều vấn đề phức tạp hơn trong khâu quản lí. 
- Nhiều ảnh hưởng của công nghệ hiện đại được học sinh nắm bắt nhanh, tất nhiên trong đó có cả những thói quen không tốt, những ảnh hưởng chưa tích cực.
                 II.   Nội dung thực hiện châm ngôn:
Giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò như là chiếc cầu nối đa chiều
GVCN  là mắt xích quan trọng của sự kết hợp các mối quan hệ cụ thể gia đình – học sinh - nhà trường. Tôi luôn ý thức GVCN là chiếc cầu nối đa chiều để tạo nên mối liên kết đó. Vì chỉ như vậy, người giáo viên chủ nhiệm mới có thể hoàn thành tốt vai trò, mục tiêu của mình.
Vai trò ấy được từng bước thực hiện như sau:
                1. Mối quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh
                 1.1. Nguyên tắc chung:
Đối với sự nghiệp trồng người, hình ảnh người thầy giáo mẫu mực luôn là tấm gương sáng cho các em học sinh; Do vậy, xuất phát từ vai trò trách nhiệm và sự gắn kết với học sinh mà đòi hỏi mỗi giáo viên chủ nhiệm phải giàu lòng nhân ái, vị tha, kiên trì, nhiệt tình, biết tôn trọng nhân cách học sinh và được các em tin yêu.
Giáo viên chủ nhiệm cần có uy và có sức cảm hóa thuyết phục, có bản lĩnh để xử lý kịp thời các tình huống sư phạm đa dạng, phải biết đối xử khéo léo, công bằng và nghiêm minh trong nhận xét đánh giá đối với học sinh; là người chịu trách nhiệm về sự phát triển toàn diện của học sinh lớp mình phụ trách. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm về bản chất là một trong những hoạt động sáng tạo nhất trong quá trình giảng dạy; là người xây dựng kế hoạch giáo dục riêng để giáo dục tập thể học sinh lớp mình; biết tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng để xây dựng kế hoạch phát triển tập thể học sinh, tạo nên sự đoàn kết thống nhất trong lớp, tạo điều kiện để phát huy ý thức tự quản của học sinh, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp có năng lực để điều hành hoạt động của lớp; chủ động tiếp xúc với học sinh để nắm bắt về điều kiện và hoàn cảnh của học sinh; động viên, an ủi giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên. Điều đó vừa là trách nhiệm, vừa thể hiện được tình người trong mối quan hệ “Thầy - Trò”, tạo được ấn tượng tốt và xây dựng nên hình ảnh đẹp đẽ, cao cả của những Thầy, Cô giáo trong ký ức của các em học sinh.
         1.2. Khẩu hiệu đầu tiên tôi nói khi gặp học sinh lớp chủ nhiệm là: Chúng ta là một gia đình, lớp học chúng ta là ngôi nhà.
Tôi dành thời gian phân tích cho học sinh hiểu khẩu hiệu ấy như sau:
+ Thứ nhất, mỗi chúng ta là một người chủ nhỏ của ngôi nhà. Mỗi thành viên cần có ý thúc giữ gìn ngôi nhà thật sạch và đẹp. Vì nó là bộ mặt của tất cả chúng ta.
Từ sự phân tích trên, tôi hướng dẫn học sinh cách làm sạch ngôi nhà. (Sạch đây cần hiểu theo nhiều nghĩa)
Tiết chủ nhiệm thứ 2, tôi hướng dẫn các em trang trí ngôi nhà của mình. Các em rất hào hứng. Xong việc, tôi dặn: làm sạch và đẹp lớp học không chỉ ở việc vệ sinh lớp học, các em phải học tập và ứng xử để khi ai đó nhắc đến lớp chúng ta cũng phải mỉm cười.  Nếu một bạn nào đó không có ý thức giữ gìn “gương mặt” của mình, bạn ấy sẽ làm ảnh hưởng đến ngôi nhà chung của tất cả.
Tuyên bố đó được thực hiện trong thời gian tôi chủ nhiệm. Mỗi khi một học sinh vi phạm nội quy của trường. Tôi đều nhắc lại lời dặn ấy. Vì vậy, các em rất ít khi vi phạm vì luôn sợ “ảnh hưởng đến lớp”. Tôi thấy rằng việc dạy các em biết trách nhiệm với việc mình làm, không nên ảnh hưởng xấu cho tập thể là một việc cần thiết cho con đường đời sau này.
+ Thứ hai, vì lớp là ngôi nhà, tất cả chúng ta sống dưới một mái nhà nên phải biết yêu thương và quan tâm nhau.
Bất cứ lúc nào bước vào lớp, tôi luôn nhìn sĩ số. Nếu một em nào vắng, lập tức tôi hỏi em bên cạnh về lí do bạn vắng học. Nếu em đó trả lời được lí do,  tôi khen trước lớp. Nếu em ấp úng, tôi lập tức nhắc nhở: chúng ta là một gia đình, đã chung gia đình phải biết chia sẻ và quan tâm lẫn nhau…Từ đó, tôi hình thành trong thói quen của các em cách biết quan tâm nhau từ việc nhỏ nhất.
1.3. Nguyên tắc để điều hòa quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh là: Cô trò mình cùng thực hiện.
Đó là câu nói của tôi mỗi khi đưa ra một quy định nào đó đối với học sinh. Xuất phát từ ý thức: giáo viên là tấm gương để học sinh noi theo. Tôi biết, học sinh sẽ thường xuyên nhìn vào mình để hành động. Do vậy, đây là nguyên tắc cực kì quan trọng. Nguyên tắc ấy đã giúp tôi ứng dụng trong một số trường hợp cụ thể sau:
+ Nhà trường ra quy định học sinh phải đội nón bảo hiểm khi đi xe đạp và xe máy. Tôi thực hiện trước, các em làm theo.
+ Các em được quy định đi học vào lớp đúng giờ, nhưng nếu GV vào lớp trễ thì sao? Khi có việc gì vào lớp trễ, tôi luôn nói “xin lỗi các em” và đưa ra lí do, tất nhiên đó phải là lí do chính đáng.
+ Nhà trường quy định: trong giờ học, học sinh không được sử dụng điện thoại di động. Học sinh vẫn sẽ dùng di động nếu giáo viên còn sử dụng, thế nên, tôi không bao giờ cầm theo di động vào lớp. Do đó, khi nhắc nhở một số em còn để chuông điện thoại reo, các em ấy không dám tái phạm.
+ Hội Chữ thập đỏ của trường phát động phong trào ủng hộ lũ lụt, hay đi thăm gia đình cụ già neo đơn, tôi đều khuyến khích các em tham gia bằng cách “cô trò mình cùng làm”. Học sinh khi thấy các phong trào có sự tham gia của GVCN sẽ hiểu rằng đó là việc tốt, quan trọng, ý nghĩa nên các em sẽ hào hứng hơn.
* Tóm lại nguyên tắc Cô trò mình cùng thực hiện đã giúp tôi hoàn thành công tác chủ nhiệm hiệu quả hơn.
1.4.  Mục tiêu phấn đấu: Cô sẽ là nhà tâm lí tư vấn cho em
Học sinh trung học phổ thông thường bắt đầu có tâm lí của tuổi mới lớn. Vì vậy, tôi luôn chú ý đến tâm sinh lí của các em. Tôi muốn mình trở thành người bạn mà các em có thể tâm sự và chia sẻ. Khi cần, sẽ lắng nghe để các em trút nỗi lòng. Khi cần, sẽ đưa ra những ý kiến đóng góp.
2. GVCN là cầu nối cho mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình học sinh.
- Nhà trường và gia đình sẽ là các lực lượng giáo dục thông qua đầu mối liên kết là giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm trở thành người trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình, thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội và truyền đạt những chủ trương của nhà trường đến với gia đình đồng thời thu nhận ý kiến, nguyện vọng của gia đình để báo cáo lại lãnh đạo nhà trường. Nếu giáo viên làm được chiếc cầu nối giữa nhà trường và gia đình việc giáo dục học sinh sẽ có hiệu quả hơn. Tôi đã tiến hành các việc làm như sau:
+ Mời phụ huynh học sinh tham gia Hội phụ huynh học sinh nhằm phát huy tính tích cực của các bậc phụ huynh trong việc tham gia cùng nhà trường để giáo dục con em mình.
+ Tổ chức họp phụ huynh học sinh định kỳ theo qui định của nhà trường, trong những trường hợp đặc biệt chủ động xin ý kiến Ban Giám hiệu để tổ chức họp đột xuất hoặc gặp riêng và trao đổi với từng phụ huynh học sinh để bàn bạc, trao đổi thông tin, nhằm đề ra những biện pháp khắc phục, uốn nắn kịp thời. Qua đó đã thể hiện sự quan tâm sâu sát của nhà trường, đồng thời tạo được sự tin tưởng của phụ huynh học sinh đối với nhà trường khi con em mình được học tập tại trường.
+ Cho số điện thoại riêng để khi cần thiết, gia đình và giáo viên có thể trò chuyện trực tiếp và nhanh chóng có những thông tin phản hồi kịp thời.
                3. GVCN bắt kênh thông tin từ mối quan hệ giữa các giáo viên bộ môn và học sinh của lớp.
Trong quá trình giảng dạy, bên cạnh sự quán xuyến, đôn đốc, theo dõi của giáo viên chủ nhiệm còn có tập thể các Thầy, Cô trực tiếp giảng dạy và truyền đạt kiến thức bộ môn. Qua trao đổi, tiếp nhận thông tin từ các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm có thể nắm bắt thêm về tinh thần, thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật, học lực... của từng học sinh trong lớp. Từ đó, tạo điều kiện cho giáo viên chủ nhiệm có sự nhìn nhận và đánh giá khách quan về chất lượng học tập của từng học sinh trong lớp đồng thời có biện pháp động viên, nhắc nhở, giáo dục phù hợp đối với từng học sinh.
Trong các buổi sinh hoạt lớp phải thật sự cởi mở và thể hiện sự quan tâm tận tình để các em có điều kiện đề đạt ý kiến, nguyện vọng về công tác giảng dạy của giáo viên bộ môn. Qua đó, giáo viên chủ nhiệm đúc kết có chọn lọc và chuyển tiếp nguyện vọng của học sinh đến với các giáo viên bộ môn để tập thể sư phạm giảng dạy tại lớp có tinh thần cộng đồng trách nhiệm trong việc giáo dục học sinh.
PHẦN III
                                                                                                          KẾT LUẬN
Có thể đây chưa phải là những kinh nghiệm lớn về công tác chủ nhiệm. Song nó cũng là sự trải nghiệm của chính bản thân tôi qua 6 năm làm chiếc cầu nối ấy. Tôi nhận thấy làm chủ nhiệm là một việc khó khăn và quan trọng không kém việc truyền thụ kiến thức cho học sinh. Bởi vì, để có thể trở thành chiếc cầu nối đa chiều là một việc đòi hỏi tôi cố gắng nhiều hơn nữa.
 

Chuyên đề 2: QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC

Thực hiện:  GV  Lê Hoài Nhân
Đơn vị:THPT Long Thành
I. Khái quát về phương pháp giáo dục học sinh bằng biện pháp kỷ luật tích cực
1. Khái niệm
- Giáo dục kỷ luật dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của học sinh, không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của học sinh và phù hợp với tâm sinh lý học sinh.
- Kỷ luật tích cực là dựa trên cơ sở cùng thảo luận khi có đầy đủ thông tin và tôn trọng lẫn nhau. Kỷ luật tích cực nhấn mạnh đến việc thay đổi hành vi hơn là xử phạt, theo tư duy nguyên nhân và hậu quả.
- Kỷ luật tích cực là cách giúp các em tự kiểm điểm bản thân, có trách nhiệm với hành vi của mình, đồng thời xây dựng cho các em  kỹ năng giải quyết vấn đề và tinh thần hợp tác.
2. Nguyên tắc
- Không nên chỉ áp đặt quy tắc từ phía giáo viên chủ nhiệm. Việc cả giáo viên chủ nhiệm và học sinh cùng xây dựng quy tắc thể hiện rõ giáo viên chủ nhiệm tôn trọng học sinh.
- Giáo viên chủ nhiệm cần giải thích rõ các quy tắc cho học sinh,
 để hiểu rõ tại sao cần phải tuân thủ các nguyên tắc đó, tránh gây tranh cãi liên miên. Tương tự như vậy, học sinh cũng cần giải thích rõ tại sao các em đặt ra quy tắc.
- Các quy tắc có thể thay đổi nếu có lý do chính đáng. Những sự thay đổi này phải được cả giáo viên chủ nhiệm lẫn học sinh đồng ý.
- Học sinh có quyền thắc mắc về những quy tắc và những lý do cần phải có nguyên tắc đó. Giáo viên chủ nhiệm phải lắng nghe và giải thích cho học sinh hiểu.
- Quá trình xây dựng những nguyên tắc này giúp học sinh phát triển tính độc lập và khả năng tự kiểm soát hành vi của mình.
- Mọi chiến lược kỷ luật hợp tác đều nhắm tới giáo dục để học sinh không chỉ là vâng lời người lớn mà chính là phải xây dựng những giá trị của chính mình và học cách xử sự một cách rõ ràng, mạch lạc theo những giá trị đó.
II. Thực hiện quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực
2.1. Tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục
- Nhà giáo dục vĩ đại Nga Usinxki nói rằng: “muốn giáo dục con người về mọi mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt”
- Nếu hiểu học sinh thì có thể chọn lựa được những tác động thích hợp. Nếu không hiểu học sinh thì không thể tìm được những phương pháp giáo dục phù hợp với đối tượng và do đó có thể thất bại. Kể cả việc lựa chọn nội dung và các hình thức giáo dục cũng cần căn cứ vào đặc điểm đối tượng. Chú ý đặc điểm đối tượng là nguyên tắc quan trọng của giáo dục học. Tìm hiểu học sinh và tập thể học sinh vừa là điều kiện vừa là một nội dung quan trọng trong công tác chủ nhiệm lớp.
- Giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu và nắm vững các đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý, tính cách, năng lực, sức khỏe, năng lực phát triển trí tuệ, sở thích, nguyện vọng, năng khiếu, phẩm chất đạo đức của học sinh. Về hoàn cảnh sống, mối quan hệ với tập thể, bạn bè .... Qua đó để thấy mặt mạnh, mặt yếu của từng học sinh, của tập thể lớp để phát huy và khắc phục. Trên cơ sở đó phát hiện những yếu tố mới, những mầm mống, những nhân tố tích cực để làm nòng cốt cho phong trào chung của lớp.
- Để tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục, Giáo viên chủ nhiệm có thể vận dụng những cách thức sau:
 a. Thông qua phiếu lý lịch đầu năm học,  trong buổi đầu tiên lớp gặp Giáo viên chủ nhiệm trước khi bước vào năm học mới: (PHỤ LỤC  trang 28)
- Tác dụng:
Từ phiếu lý lịch trên, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm bắt kịp thời đặc điểm sơ lược của các em, đây cũng là cơ sở quan trọng để giáo viên chủ nhiệm lựa chọn Ban cán sự lớp – lực lượng nòng cốt và quan trọng hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình áp dụng biện pháp kỷ luật tích cực.
  b. Thông qua, giấy tờ cá nhân của học sinh (khai sinh , hộ khẩu ...),  phiếu học sinh do nhà trường chuẩn bị: ( PHỤ LỤC trang 29 - 30)
Nếu giáo viên chủ nhiệm không có thời gian chuẩn bị phiếu lý lịch trên thì sử dụng từ nguồn do nhà trường cung cấp
- Tác dụng:
Từ giấy khai sinh hoặc hộ khẩu của học sinh chúng ta nắm bắt những thông tin chính xác hơn về học sinh, kịp thời sửa chữa những sai sót về lý lịch của các em. Kết hợp với tư liệu từ phiếu học sinh, chúng ta tổng kết những thông tin cần thiết về học sinh về mọi mặt, để từ đó có biện pháp giáo dục thích hợp với từng đối tượng.
c.  Thông qua giấy tờ, hồ sơ, sổ sách của lớp :
c1.Sổ gọi tên và ghi điểm trung học phổ thông  (PHỤ LỤC trang 31)
- Điểm danh số ngày vắng của học sinh trong sổ gọi tên và ghi điểm ( PHỤ LỤC  trang 32 )
- Tác dụng:
Rút ra đặc điểm về chuyên cần học tập của học sinh, căn cứ vào số lượng ngày nghỉ trong tháng, giáo viên chủ nhiệm có thể nắm được những đối tượng thường xuyên nghỉ học. Từ đó tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp giúp đỡ các em trong học tập. 
-  Điểm số của học sinh trong sổ gọi tên và ghi điểm (PHỤ LỤC trang 33)
- Tác dụng:
Theo dõi quá trình học tập hàng tháng của học sinh, cập nhật những thông tin quan trọng như học sinh giỏi, khá, học sinh yếu, kém. Những môn học có nhiều học sinh điểm thấp…nhằm kịp thời khắc phục trong tháng sau.
c2. Sổ đầu bài  (PHỤ LỤC  trang 34)
Từ sổ đầu bài giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm được đặc điểm của lớp học có tích cực hay không tích cực, có nhiều hay ít học sinh vi phạm nội quy, theo dõi những em thường xuyên vi phạm ….(PHỤ LỤC  trang 35)
d. Thông qua sổ chủ nhiệm của giáo viên chủ nhiệm (cẩm nang quan trọng của giáo viên chủ nhiệm trong tìm hiểu đặc điểm của đối tượng giáo dục). Vì vậy trong sổ chủ nhiệm giáo viên phải liên tục cập nhật những thông tin sau :
- Giáo viên chủ nhiệm phải nắm bắt đầy đủ, kịp thời tất cả các thông tin cá nhân của từng học sinh trong lớp (PHỤ LỤC  trang 36)
- Giáo viên chủ nhiệm phải biết rõ tình hình cư trú theo từng địa bàn của học sinh, để có những phương pháp giáo dục thích hợp với từng học sinh theo đặc điểm của địa phương nơi học sinh ở. (PHỤ LỤC  trang 37)
- Giáo viên theo dõi những trường hợp học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong suốt năm học.
Ví dụ:
HỌC SINH CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
  HỌ TÊN HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH
1 Nguyễn Vũ Phương Ánh Ba mới qua đời, mẹ đi làm nuôi hai chị em đi học
2 Nguyễn Thị Mai Phương Hộ nghèo ( có chứng nhận của địa phương )
3 Nguyễn Thị Phương Thảo Gia đình  làm ruộng, Ba đang điều trị Lao, Mẹ phải phẫu thuật ung bướu, nuôi người cô ung thu u sọ hầu 
 
- Giáo viên chủ nhiệm phải quan tâm theo dõi các học sinh xa nhà và đang phải ở trọ, cần biết chính xác nơi các em ở trọ.  (PHỤ LỤC  trang 37)
- Ngoài ra giáo viên chủ nhiệm còn phải nắm thông tin chi tiết về phụ huynh học sinh như số điện thoại di động, để biết hoàn cảnh đặc biệt của các em thông qua phụ huynh học sinh (do các em ngại trình bày với giáo viên chủ nhiệm) như ba mẹ đã ly dị, ly thân, gia đình có thành phần phức tạp, mâu thuẫn….. (PHỤ LỤC  trang 38)
- Những thông tin thu được qua quá trình tìm hiểu học sinh cần được Giáo viên chủ nhiệm phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại.... để rút ra những kết luận chính xác, khách quan về đối tượng giáo dục, tránh kết luận vội vàng, nhầm lẫn, thiếu thiện chí.
2.2. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Giáo viên chủ nhiệm và học sinh – nền tảng quan trọng của phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp kỷ luật tích cực
Quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa người với người ở đất nước ta hiện nay là điều kiện thuận lợi để hình thành quan hệ tốt đẹp giữa người lớn và thanh niên mới lớn. Đặc biệt chúng ta đang thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Tuy vậy khó tránh khỏi những xung đột nhỏ giữa thanh thiếu niên và người lớn, hay giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh. Điều đó một phần do học sinh và giáo viên chủ nhiệm sống và phát triển ở hai giai đoạn khác nhau. Mặt khác nó phụ thuộc nhiều vào thái độ của hai phía đối với nhau, quan điểm của hai phía về nhau.
Quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh có thể tốt đẹp nếu giáo viên chủ nhiệm thực sự tin tưởng vào học sinh, tạo điều kiện để các em được thỏa mãn tính tích cực, độc lập trong hoạt động, tạo điều kiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm không được quyết định thay, làm thay cho học sinh, như vậy các em sẽ mất hứng thú và cảm thấy phiền toái. Mặt khác , thái độ “đỡ đầu” quá cặn kẽ của giáo viên chủ nhiệm sẽ củng cố ở học sinh tính trẻ con, thờ ơ và vô trách nhiệm. Nếu quen với cảm giác “đỡ đầu” đó các em sẽ rụt rè, không dám quyết định khi cần thiết. Giáo viên chủ nhiệm cần tổ chức lớp tích cực, tự quản nhưng không phải thờ ơ, để mặc lớp làm gì thì làm, phải lôi kéo tất cả học sinh vào hoạt động chung, kích thích được tinh thần trách nhiệm, sự tự giáo dục và giáo dục lẫn nhau của các em. 
Về điều này tôi đã tiến hành khảo sát và tìm ra được những điều học sinh cần và chưa đồng ý về giáo viên chủ nhiệm, để từ đó giáo viên chủ nhiệm rút kinh nghiệm để xây dựng được mối quan hệ tốt và nhận được sự ủng hộ của học sinh trong quá trình quản lý lớp : (PHỤ LỤC trang39 – 40 – 41)
Từ các ý kiến của học sinh được khảo sát, tôi rút ra những kết luận sau:
a. Những điều các em cần:  (PHỤ LỤC  trang 42)
- Thái độ quan tâm nhiều hơn đến các em, nhất là hoàn cảnh sống của các em, giúp đỡ các em gặp hoàn cảnh khó khăn trong học tập.
- Khi các em vi phạm nội quy, không la mắng vội mà tìm hiểu nguyên nhân vì sao các em vi phạm. Tùy vào mỗi hoàn cảnh mà có hình thức xử lý khác nhau.
 - Tôn trọng ý kiến của các em. Nếu các em hiểu sai vấn đề thì điều các em mong muốn không phải những lời nặng nhẹ mà là sự hướng dẫn cho các em thấy trách nhiệm việc mình làm và sửa đổi.
- Thông cảm, lắng nghe các em nhiều hơn
- Thái độ nghiêm khắc, công bằng, thưởng phạt phân minh.
b. Những điều các em chưa đồng ý: (PHỤ LỤC  trang 43)
- Thiếu quan tâm, thờ ơ, nhất là đối với các bạn có hoàn cảnh khó khăn, khi lớp tham gia phong trào của trường thì không ủng hộ, không theo dõi và khi các em đạt thành tích cũng không thấy khen ngợi, động viên.
- Can thiệp quá sâu vào tình cảm riêng tư của các em.
- Tạo áp lực về thành tích
- Lời lẽ thái quá, xúc phạm các bạn vi phạm trước tập thể lớp
- Áp đặt theo ý muốn của giáo viên chủ nhiệm, không tôn trọng ý kiến của học sinh.
- Thiếu công bằng .
Từ đó cá nhân tôi nhận thấy ở các em hình thành một số nguyện vọng cơ bản sau:
- Được yêu thương
- Được tôn trọng
- Được hiểu, thông cảm
c.  Biện pháp của giáo viên chủ nhiệm đáp ứng được nguyện vọng cơ bản của học sinh
- Hiểu đặc điểm tâm lý của học sinh qua từng giai đoạn
- Lắng nghe học sinh một cách quan tâm, chăm chú
- Tạo ra môi trường thân thiện ở trường mà học sinh có thể biểu lộ, thể hiện chính bản thân các em. 
- Cử chỉ nhẹ nhàng, ân cần. Luôn giữ cho âm điệu, giọng nói hài hòa trong lớp học. Tuỳ theo tình huống, có lúc giọng nói mang tính chất quan tâm, phấn khởi, khuyến khích, có lúc rõ ràng, kiên quyết, nghiêm khắc
- Tôn trọng ý kiến của học sinh.
- Động viên, giúp đỡ, khích lệ, khoan dung, độ lượng, vị tha . . .
- Công bằng với tất cả học sinh, không phân biệt đối xử
- Tạo giới hạn và bình tĩnh khi học sinh vi phạm nội quy. Nếu học sinh có mắc lỗi, hãy chú ý đến hành vi của học sinh. Không được đồng nhất lỗi lầm của học sinh với nhân cách, con người của các em.
Tôi tin là nếu chúng ta căn cứ vào tâm tư, nguyện vọng của các em để có các phương pháp kỷ luật thích hợp thì chắc chắn chúng ta sẽ tạo được mối quan hệ tốt với học sinh, tạo cho các em sự tin tưởng và tôn trọng, từ đó chúng ta mới có thể thiết lập các hình thức kỷ luật tích cực được, vì căn bản phương pháp này dựa trên sự tự ý thức của các em. Nếu giáo viên chủ nhiệm thiết lập được mối quan hệ vững chắc giữa thầy và trò dựa trên nền tảng tôn trọng thì tập thể lớp sẽ tự giác thực hiện nội quy nghiêm túc , vì kính trọng giáo viên và nhận thức được điều đúng đắn. Dù biết rằng việc này sẽ rất khó khăn vì ngoài công tác chủ nhiệm, giáo viên còn công tác giảng dạy và cuộc sống bận rộn của gia đình, nhưng nếu chúng ta cố gắng một chút thì sẽ tạo nên rất nhiều thay đổi tích cực.
2.3. Xây dựng quá trình quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực
- Căn cứ vào quá trình khảo sát, tôi rút ra được những hình thức kỷ luật mà học sinh nhận thấy là chưa tích cực, thiếu hiệu quả giáo dục: (PHỤ LỤC  trang 44)
+ Dùng vũ lực đối với học sinh: dùng thước đánh, tát vào mặt, nhéo tai, gõ vào đầu...
+ La mắng, dùng lời lẽ nặng nề xúc phạm đến các em
+ Bản kiểm điểm thường xuyên sẽ không tạo được hiệu quả kỷ luật.
+ Dù vi phạm nhẹ cũng gọi điện thoại cho phụ huynh
+ Đuổi ra khỏi lớp khi vi phạm nội quy lần đầu.
+ Đi lao động (theo các em vừa mất thời gian mà không có tác dụng răn đe vì khi lao động do phạm vi lao động trong sân trường rộng nên có nhiều bạn lén ngồi chơi, nói chuyện hoặc không làm gì cả ...)
* ỨNG DỤNG THỰC TIỄN
Căn cứ vào quá trình chủ nhiệm của bản thân và sự đồng ý của hơn 90 % trong tổng số 249 học sinh được khảo sát thăm dò ý kiến tôi xin mạnh dạn đề ra phương pháp quản lý lớp học bằng biện pháp kỷ luật tích cực như sau:
Đầu năm học giáo viên chủ nhiệm và học sinh cùng tiến hành bàn bạc với nhau về nội quy của lớp, hình thức kỷ luật đối với học sinh (dựa trên Điều lệ trường THPT, Quy định về khen thưởng và kỷ luật học sinh của  Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam - trích Quyết định 1118/QĐ của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục ký ngày 1.12.1987). Sau khi học sinh  tự bàn bạc, thống nhất mọi điều, giáo viên chủ nhiệm sẽ tổng hợp thành một bản “quy ước lớp học” hoặc “hình thức kỷ luật của lớp” và phổ biến. Bản quy ước này có thể bổ sung hoặc sửa đổi tùy theo tình hình học tập của học sinh và tình hình cụ thể của từng lớp.
Mỗi giáo viên chủ nhiệm sẽ căn cứ vào kinh nghiệm thực tế  và tình hình cụ thể của lớp chủ nhiệm của mình mà đưa ra nội dung bản quy ước hoặc hình thức kỷ luật cho phù hợp, riêng cá nhân tôi thì tôi xin trình bày : 
THANG ĐIỂM HẠNH KIỂM
I. ĐỒNG PHỤC
- Nam sinh: mang giày, xăngđan có quai hậu, không mang dép lê, quai chẻ. Mặc quần màu xanh, không mặc quần màu đen, không nhuộm tóc, xịt keo, không để móng tay quá dài ...
- Nữ sinh: mang giày, xăngđan có quai hậu, không mang dép lê, quai chẻ. Không mang giỏ xách đi học, không nhuộm, uốn tóc, không sơn móng tay, chân. Mặc áo dài kín đáo, đúng quy định
Nếu vi phạm trừ 5 điểm/lần
Vi phạm 2 lần/ tháng: trừ 10 điểm
Vi phạm 3 lần/tháng: mời phụ huynh phối hợp cải thiện tình hình
Vi phạm 4 lần trở lên/ tháng: hạ 1 bậc hạnh kiểm
* Cấm tuyệt đối học sinh nam và nữ mặc quần đáy ngắn. Vi phạm:
Lần đầu: bản kiểm điểm + trừ 5 điểm
Lần 2: mời PHHS làm bản cam kết mới cho vào lớp
Lần 3: hạ hạnh kiểm xuống 1 bậc
Lần 4: trở lên/ học kỳ:  hạ hạnh kiểm xuống trung bình
II.  CHUYÊN CẦN
1 . Đi học trễ: trừ 1 điểm/1 lần.
Nếu đi học trễ trên 3 lần/tháng tăng lên trừ  2 điểm/1 lần
2 . Nghỉ học không phép: trừ  2 điểm/1 lần, có phép: trừ  1 điểm/1 lần (áp dụng cho cả những buổi học trái buổi)
Nghỉ học không phép từ 3 buổi trở lên trong 1 tháng: khiển trách trước lớp và trừ  4 điểm/1 lần
3. Cúp tiết:
- Vi phạm lần đầu:  cảnh cáo  và trừ  10 điểm
- Tái phạm nhiều lần trong tháng: Mời phụ huynh học sinh, hạ hạnh kiểm
4 . Không thuộc bài, không làm bài tập (ở nhà và trên lớp): trừ  5 điểm/lần.
- Không thuộc bài, không làm bài tập từ 3 lần trở lên trong 1 tháng: khiển trách  trước lớp và  trừ  10 điểm/lần.
- Tái phạm nhiều lần trong tháng: Mời phụ huynh học sinh, hạ hạnh kiểm
5 . Nói chuyện, ngủ gục trong giờ học, nói chuyện trong giờ chào cờ, ăn vụng trong giờ học: trừ 3 ñeán 10 ñieåm/lần
- Tái phạm nhiều lần trong tháng: Mời phụ huynh học sinh, hạ hạnh kiểm
III.  NỘI QUY KHÁC
1. Sử dụng điện thoại di động trong giờ học:
 - Lần đầu vi phạm: nhà trường tịch thu điện thoại di động, cuối năm học trả cho phụ huynh học sinh, đánh giá hạnh kiểm
- Tiếp tục vi phạm: hạ hạnh kiểm xuống trung bình, yếu
2. Xả rác, ném phấn bừa bãi, mang thức ăn, nước uống vào:  trừ 5 điểm/lần .
- Tái phạm trên 3 lần trong tháng: trừ 10 điểm / lần
- Tiếp tục vi phạm nhiều lần trong tháng:  hạ 1 bậc hạnh kiểm.
3. Ban cán sự lớp, Ban chấp hành chi đoàn lớp không hoàn thành nhiệm vụ:  trừ 5 ñieåm/ lần
4. Học sinh nhận được sự phân công hợp lý của nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, Ban cán sự lớp, Đoàn trường mà cố tình không thực hiện : trừ 5 ñieåm/ lần
5. Học sinh nào vi phạm nội quy bị Giáo viên bộ môn ghi tên vào Sổ đầu bài : trừ điểm gấp đôi hoặc gấp ba tùy theo mức độ vi phạm năng hay nhẹ .
- Tiếp tục vi phạm nhiều lần trong tháng:  Mời phụ huynh học sinh, hạ hạnh kiểm
6. Lười biếng, cố tình không tham gia phong trào chung của lớp, của nhà trường:  trừ 5 ñieåm/lần
7. Vi phạm an toàn giao thông có xử lý biên bản của công an giao thông: Mời phụ huynh học sinh, hạ hạnh kiểm
IV.  HẠNH KIỂM YẾU
Nếu học sinh vi phạm vào những hành vi bị cấm đối với học sinh theo quy định tại Điều 39 Điều lệ trường trung học như sau:
  - Vô lễ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể của giáo viên, nhân viên nhà trường
- Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn: đánh nhau, gây rối trật tự, an ninh trong nhà trường và ngoài xã hội
- Đánh bạc; vận chuyển, tàng trữ và sử dụng ma túy; vũ khí, chất nổ, chất gây cháy, các loại chất độc hại, lưu hành văn hóa phẩm đồi trụy.
- Hút thuốc, uống rượu, bia.
V.  ĐUỔI HỌC (Theo Quy định về khen thưởng và kỷ luật học sinh của  Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam - trích Quyết định 1118/QĐ của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục ký ngày 1.12.1987)
-  Đuổi  học 1 tuần lễ
Khi vi phạm những nội dung sau (Dù vi phạm lần đầu):
+ Trộm cắp
+ Trấn lột
+ Gây gổ đánh nhau có tổ chức và gây thương tích
- Đuổi học 1 năm:
+ Mắc khuyết điểm tái phạm sau khi bị đuổi học 1 tuần
+ Vi phạm những nội dung sau (Dù vi phạm lần đầu):
·              Chủ động tham gia các tổ chức trộm cắp, trấn lột, trụy lạc...
·              Dùng vũ khí (dao găm, lưỡi lê, súng, lựu đạn...) đánh nhau có tổ chức gây thương tích cho người khác
·              Can án ngoài trường bị công an bắt giữ
VI. ĐIỂM CỘNG KHUYẾN KHÍCH
Do các em chỉ có 50 điểm hạnh kiểm trong 1 học kì nên các em sẽ tự giác không vi phạm nhiều lần, các em sẽ phấn đấu hơn để kiếm thêm điểm thưởng cộng vào điểm hạnh kiểm của các em. Ví dụ: cộng từ 5 đến 10 điểm hạnh kiểm khi các em:
+ Tham gia hăng hái trong các giờ học của lớp và được lớp bình chọn là học sinh có thành tích tốt nhất trong tuần hoặc tháng
+ Học sinh không vi phạm bất cứ nội quy nào trong tháng, học kì
+ Tham gia tích cực các phong trào của nhà trường và Đoàn Thanh niên
+ Tham gia tích cực trong hoạt động ngoài giờ .....
CÁCH TÍNH ĐIỂM VÀ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM
Tổng điểm / học kì Xếp loại Chú ý
35 – 50 ĐIỂM TỐT - Không vi phạm nội quy tại nội dung  I, II, III của thang điểm hạnh kiểm trên 3 lần trong 1 tháng
- Không vi phạm nội quy tại nội dung  IV, V của thang điểm hạnh kiểm trên
20 – 34 ĐIỂM KHÁ - Không vi phạm nội quy tại nội dung  I, II, III của thang điểm hạnh kiểm trên 4 lần trong 1 tháng
- Không vi phạm nội quy tại nội dung  IV, V của thang điểm hạnh kiểm trên
10 – 19 ĐIỂM TRUNG BÌNH - Không vi phạm nội quy tại nội dung  IV, V của thang điểm hạnh kiểm trên
1 – 9 ĐIỂM YẾU  
0 ĐIỂM KÉM  
 
 Nếu đây là bản quy ước do chính các em đặt ra (dưới sự hướng dẫn, phân tích của giáo viên chủ nhiệm) thì các em sẽ thực hiện nghiêm túc. Vì các em chỉ có 50 điểm hạnh kiểm trong 1 học kì nên các em sẽ tự giác không vi phạm nhiều lần. Các em cũng phấn đấu hơn để kiếm thêm điểm thưởng cộng vào điểm hạnh kiểm của các em (theo quy định trong thang điểm hạnh kiểm nêu trên)
* TÁC DỤNG:
Bản “Thang điểm hạnh kiểm” là kết quả hợp tác dựa trên cơ sở cùng tôn trọng lẫn nhau giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh  nên sẽ tạo không khí thân thiện giữa thầy và trò, học sinh không cảm thấy có áp lực nặng nề, gò bó, mất dân chủ... Giáo viên chủ nhiệm cũng đã thiết lập được mối quan hệ vững chắc với học sinh và nhận được nơi học sinh sự kính trọng, thương yêu, nhờ đó mà các em cố gắng rèn luyện. Các em sẽ có cảm giác các em đang cùng giáo viên chủ nhiệm và cùng nhau xây dựng tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết, như vậy các em đang tự hoàn thiện đạo đức của bản thân ngày càng tiến bộ hơn.
IV. TÌNH HÌNH THỰC TẾ KHI TRIỂN KHAI PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC  KỶ LUẬT TÍCH CỰC
Quản lý lớp học bằng biện pháp “Thang điểm hạnh kiểm” là biện pháp dựa trên sự tự ý thức của các em là chính, hay nói cách khác chúng ta sẽ tạo ra một tập thể lớp tự quản, tự giác thực hiện nghiêm chỉnh nội quy nhà trường. Nhưng tập thể này sẽ thực hiện có hiệu quả hơn khi có sự quản lý chặt chẽ của giáo viên chủ nhiệm, của Ban cán sự lớp năng động, nhiệt tình, trung thực và tận tâm vì tập thể lớp. Tâm lý của học sinh là muốn tự mình quản lý mình, làm theo ý thích, nhưng nếu chúng ta không quan tâm, để mặc thì các em sẽ đi quá đà, vì tuổi các em còn thiếu kinh nghiệm sống và khả năng ức chế thần kinh. Do đó vẫn cần quan tâm, cố vấn của của giáo viên chủ nhiệm nhiều hơn, nhưng đồng thời giáo viên chủ nhiệm không nên tạo ra quá nhiều áp lực cho các em. Cụ thể  giáo viên chủ nhiệm sẽ tiến hành biện pháp sau:
1. Kết hợp “Thang điểm hạnh kiểm” và sự quản lý chặt chẽ của giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm không thể dành hết thời gian quản lý lớp học cho nên giáo viên sẽ quản lý lớp thông qua Ban Cán sự lớp. Chính vì thông qua trung gian nên giáo viên chủ nhiệm cần có các biện pháp thích hợp để sự quản lý tiến hành được chặt chẽ, chính xác, thuận lợi và đạt hiệu quả. Muốn đạt được điều đó giáo viên chủ nhiệm cần:
a. Dựa vào kinh nghiệm của mình phải chọn Ban cán sự lớp năng động, tích cực, trung thực, tự giác, có tinh thần trách nhiệm
b. Phân công công việc rõ ràng và chi tiết, càng cụ thể càng tốt, tránh quy định chung chung, các em sẽ rất khó làm việc vì không biết đó có phải nhiệm vụ của mình không, rồi nảy sinh tình trạng đùn đẩy nhau, khiến công việc bế tắc và thiếu hiệu quả.
c. Cách thức tiến hành:
- Theo dõi và  quản lý lớp thông qua báo cáo hàng tuần của ban cán sự lớp bằng sổ theo dõi. (PHỤ LỤC  trang 45)
- Hàng tuần tổ trưởng sẽ theo dõi hoạt động học tập, rèn luyện đạo đức của tổ viên và chịu trách nhiệm ghi chép à báo cáo chi tiết cho Giáo viên chủ nhiệm
- Hàng tháng các tổ trưởng sẽ tổng kết thang điểm hạnh kiểm của các tổ viên và nộp báo cáo cho Giáo viên chủ nhiệm (PHỤ LỤC  trang 46)
- Giáo viên chủ nhiệm phải tổng kết các hoạt động của lớp và các vi phạm của học sinh  thông qua nhiều nguồn từ giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên, lớp trưởng đến tổ trưởng à phân tích, xem xét, điều tra à lắng nghe các em giải thích à tìm hình thức xử lý phù hợp hơn.
d. Tác dụng:
Khi giáo viên chủ nhiệm tổng kết hạnh kiểm cho các em, tự bản thân các em sẽ thấy mình tiến bộ hay tuột hậu. Đối với các em tiến bộ thì giáo viên chủ nhiệm hãy khen ngợi hết lời để các em hãnh diện và phấn đấu giữ vững thành tích, đồng thời cũng giúp các bạn chưa tiến bộ cố gắng hơn .
Đối với các em vi phạm nhiều có nghĩa là các em không tự ý thức được quyền lợi của mình thì đến lúc này giáo viên chủ nhiệm mới áp dụng hình thức xử phạt nặng hơn để thực hiện 2 mục tiêu giáo dục: 
- Thứ nhất các em sẽ thấy mình đã đánh mất cơ hội sửa chữa lỗi lầm và bây giờ các em sẽ ý thức được các em sẽ phải nhận những hình thức kỷ luật nghiêm khắc hơn, khi đó các em mới tâm phục khẩu phục và chấp nhận sửa đổi.
- Thứ hai  đây là hình thức nhắc nhở các em chưa vi phạm biết cố gắng trân trọng những cơ hội của mình.
e. Kết quả thực hiện trên thực tế:
 Trong quá trình nhận công tác chủ nhiệm theo sự phân công của Ban Giám hiệu, cá nhân tôi đã áp dụng biện pháp kỷ luật bằng “Thang điểm hạnh kiểm” trên đối với các lớp do tôi quản lý. Tôi nhận được những kết quả thực tế như sau:
Ví dụ 1: 
- Tập thể lớp có học sinh có học lực giỏi và đa phần các em đều có ý thức học tập chăm chỉ và rèn luyện đạo đức nghiêm túc thì bản “Thang điểm hạnh kiểm” đã được lớp thực hiện nghiêm túc và kết quả các em đạt được rất tốt
Năm học 2004-2005: lớp 10A7 (Sĩ số 46)
Xếp loại hạnh kiểm Học kì I Xếp loại hạnh kiểm Học kì II
Tốt: 45 học sinh
TB: 01 học sinh (do vi phạm quy chế thi )
Tốt: 46 học sinh
 
Ví dụ 2
- Tập thể lớp có nhiều đối tượng học sinh từ giỏi đến yếu thì bản “Thang điểm hạnh kiểm” đã  góp phần cải thiện được tình hình rèn luyện đạo đức của các em còn lười học, chưa thực sự tự giác .
Năm học 2006-2007 : lớp 11A7 ( Sĩ số 43 )
Xếp loại hạnh kiểm Học kì I Xếp loại hạnh kiểm Học kì II
Tốt: 17 học sinh
Khá: 19 học sinh
TB: 7 học sinh
Tốt: 24 học sinh
Khá: 16 học sinh
TB: 3 học sinh
 
2.  Thực trạng khó khăn: Lớp học có nhiều học sinh cá biệt
a. Thế nào là học sinh cá biệt?
Những học sinh có thái độ lười biếng trong học tập
Những học sinh thường xuyên gây mất trật tự, vô kỷ luật, tập hợp những học sinh cùng ý chí để quấy phá, gây trở ngại cho việc tổ chức và tiến hành các hoạt động của tập thể
b. Vì sao các em trở thành học sinh cá biệt?
 Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói “…Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”, cho thấy việc hình thành nhân cách của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố bên ngoài, như môi trường gia đình, học tập, giao tiếp xã hội... trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong phát triển tâm lý của học sinh. Giáo dục phải đi trước một bước, phải đón trước sự phát triển, tạo cho học sinh hình thành những phẩm chất nhất định của cá nhân, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội. Do đó, với đối tượng học sinh cá biệt thì giáo viên chủ nhiệm càng phải tìm hiểu kỹ lưỡng hơn, đừng vội đồng nhất hành vi với nhân cách của các em.
Tìm hiểu đối tượng là bước quan trọng đầu tiên đảm bảo cho quá trình giáo dục được tiến hành có kết quả, công tác này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm rất cao và sự tận tụy, chịu khó của giáo viên chủ nhiệm. Nếu chịu khó tìm hiểu chúng ta sẽ thấy đa phần các học sinh cá biệt là do chịu những ảnh hưởng chưa tích cực như:
- Các em là một nạn nhân của một gia đình có tiềm ẩn nhiều yếu tố tiêu cực như ba mẹ ly thân, mạnh ai nấy sống, bạo hành, nghiện ngập, vướng vào hoạt động ma túy, cờ bạc, đánh đề, mại dâm ...
- Các em không nhận được sự quan tâm đúng mức của người lớn: ba mẹ chỉ lo làm ăn không có thời gian chú ý đến hoạt động ở nhà và học tập của con cái; ba mẹ ly dị, sống với ông bà già yếu, mồ côi cha hoặc mẹ thiếu thốn tình thương; thái độ thường xuyên phẫn nộ, đánh đập khi các em phạm lỗi của phụ huynh...
- Các em ngỗ ngược, chống đối hoặc ham chơi, nghiện net, do ba mẹ quá nuông chìu, muốn gì được đó ( nhất là ngày nay mỗi gia đình chỉ có 1 đến 2 con mà đời sống vật chất thì tương đối khá hơn )
- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải phụ giúp gia đình không có nhiều thời gian đầu tư vào việc học, khi bị giảm sút trong học tập thì nảy sinh cảm giác chán nản, buông xuôi.
- Học tập sa sút do điều kiện sức khỏe không tốt....
Từ những tác động trên, dần dần các em hình thành tâm lý chán nản, mất phương hướng, dễ có những quan niệm lệch lạc về suy nghĩ, dẫn đến hành vi sai trái.
c. Khắc phục khó khăn bằng cách phối hợp giữa “Thang điểm hạnh kiểm” và các biện pháp kỷ luật giáo dục tích cực khác
Cũng có năm tôi chủ nhiệm lớp có học sinh cá biệt. Tôi xin cam đoan rằng bản “Thang điểm hạnh kiểm” và cách quản lý chặt chẽ của Ban cán sự lớp, Giáo viên chủ nhiệm đã ít nhiều kềm chế được các em. Nhưng tôi cũng gặp một số học sinh cá biệt không tuân theo những thỏa thuận ban đầu giữa các em và giáo viên chủ nhiệm, đến giai đoạn này thì giáo viên chủ nhiệm sẽ phải kết hợp thêm các phương pháp kỷ luật khác như:
c1. Kỷ luật bằng sức mạnh của tập thể lớp hay còn gọi là phương pháp “tác động song song”:
- Thông qua các thành viên khác trong lớp (Ban Cán sự lớp, nhóm bạn bè nhỏ) nhắc nhở , theo dõi các học sinh cá biệt, để các em cảm nhận được sự quan tâm đó mà thay đổi suy nghĩ theo hướng tích cực hơn
- Dùng dư luận trong lớp điều chỉnh hành vi cá nhân, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, lôi kéo các em cá biệt vào những hoạt động chung của tập thể bằng cách thay vì trách phạt, hãy giao cho các em những công việc của tập thể, quan tâm giúp đỡ em hoàn thành tốt để nhận được sự khen thưởng từ tập thể, từ đó các em nhận thức được lợi ích của những hành vi đạo đức đúng đắn.
c2. Kỷ luật bằng phương pháp “ bùng nổ sư phạm”:
- Sự tác động trực tiếp nhưng sử dụng với mức độ tác dộng mạnh, bất ngờ vào quá trình hưng phấn và ức chế của hoạt động sinh lý thần kinh, dẫn tới sự thay đổi trạng thái tâm lý của học sinh cá biệt, làm thay đổi các quá trình tâm lý như nhận thức, xúc cảm, tình cảm, hành vi của đối tượng tác động
- Phương tiện thực hiện: ngôn ngữ, hành vi, quyết định của giáo viên chủ nhiệm và tập thể lớp
- Chú ý:
Sử dụng phương pháp này rất khó, đòi hỏi kinh nghiệm chủ nhiệm lâu năm và khả năng nắm bắt tâm lý, khéo léo trong ứng xử, khả năng thuyết phục cao của giáo viên chủ nhiệm, vì phương pháp này giống như con dao hai lưỡi, nếu giáo viên chủ nhiệm để học sinh biết ý đồ của mình thì chẳng những không còn tác dụng giáo dục mà sẽ mang lại nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra ngoài ý muốn.
Do đó tác động bùng nổ sư phạm phải đúng thời cơ, khéo léo, gây được cảm xúc mạnh, bất ngờ mà đối tượng tác động hoàn toàn không hiểu được ý đồ của nhà sư phạm.
d. Kết quả đạt được trên thực tế:
Năm học 2006-2007: lớp 11A7 ( Sĩ số 43 )
Học sinh cá biệt Vi Phạm
1. Tạ Quốc Duy - Thường xuyên nói chuyện, cười giỡn gây mất trật tự trong giờ học
- Thường xuyên không thuộc bài, không làm bài tập
2. Bùi Thị Thùy Duyên
3. Nguyễn Phú Hậu
4. Nguyễn Hoàng Khải
5. Phan Bình Trọng
 
- Giáo viên chủ nhiệm áp dụng “Thang điểm hạnh kiểm” đối với các đối tượng trên không đạt hiệu quả như mong muốn, các em vẫn tiếp tục vi phạm. Vì vậy giáo viên chủ nhiệm đã bỏ ra nhiều thời gian hơn tìm hiểu về các em và nhận được những nguyên nhân sau đây đã khiến các em chưa ý thức tốt:
Học sinh cá biệt Đặc điểm gia đình
1. Tạ Quốc Duy Cha mất, thiếu thốn sự chỉ bảo quan trọng từ người cha
2. Bùi Thị Thùy Duyên Gia đình có 6 người con, cha làm mướn, mẹ vừa nội trợ vừa đi phụ việc ở quán café. Bản thân em cũng phải đi làm phụ mẹ ở quán.
3. Nguyễn Phú Hậu Tính tình cố chấp, ngoan cố do sự nuông chìu của gia đình, trong khi cả ba và mẹ đều là giáo viên. Có thái độ vô lễ, hay nói leo trong khi giáo viên giảng bài
4. Nguyễn Hoàng Khải Ba và mẹ đi làm, buôn bán, không có thời gian quan tâm đến em. Nhà xa trường không liên lạc được bằng điện thoại,  mà em lại không đưa giấy mời họp phụ huynh của giáo viên chủ nhiệm, khiến quá trình liên lạc của giáo viên chủ nhiệm với gia đình gặp rất nhiều khó khăn
5. Phan Bình Trọng Do gia đình có cơ sở làm ăn phát đạt nên không cần con cái phải học nhiều, không đầu tư vào việc học mà chỉ cho con tiêu xài hoang phí vào xe máy, điện thoại….
 
- Căn cứ vào đặc điểm gia đình giáo viên lựa chọn các biện pháp kỷ luật khác nhau cho phù hợp:
Học sinh cá biệt Biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực
1. Tạ Quốc Duy  
- Giáo viên chủ nhiệm và Ban cán sự lớp thỏa thuận với các bạn khác trong lớp bất ngờ bình bầu hai bạn vào 2 vị trí của Ban cán sự lớp như Duy: lớp phó lao động; Duyên: tổ phó tổ 1, cho 2 em tham gia vào hoạt động quản lý lớp để hai em có tinh thần trách nhiệm và cố gắng học tốt hơn (vì Ban cán sự lớp thì phải nêu gương tốt cho các bạn trong lớp học tập)
- Bắt buộc em phải nhận sự kiểm tra và theo dõi quá trình học tập của Ban cán sự lớp và giáo viên chủ nhiệm. 
- Bên cạnh đó GVCN quan tâm thăm hỏi gia đình, phối hợp với Ban đại diện CMHS lớp và tập thể lớp giúp đỡ, hỗ trợ cho 2 em về chi phí học tập để 2 em an tâm đầu tư cho việc học, đồng thời GVCN động viên các em về mặt tinh thần  nhiều hơn.
2. Bùi Thị Thùy Duyên
3. Nguyễn Phú Hậu - Tìm gặp riêng gia đình các em để thông báo tình hình và yêu cầu gia đình phối hợp chặt chẽ hơn với giáo viên chủ nhiệm trong quá trình rèn luyện đạo đức của các em
  - Kỷ luật bằng cách giao việc của tập thể lớp như giúp lớp bôi bảng, đóng cửa sổ, tắt đèn quạt khi ra về , giúp lớp làm vệ sinh phòng học, giúp lớp chuẩn bị phòng thí nghiệm, sân bãi khi tập thể dục….để các em tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tập thể.
 - Chịu sự kiểm tra của Ban cán sự lớp về vấn đề học bài và làm bài tập trong giờ truy bài trước khi vào học, bên cạnh đó có sự giám sát của giáo viên chủ nhiệm
- Lôi kéo các em tham gia vào những phong trào thi đua của lớp như văn nghệ, hội khỏe phù đổng….sẵn sàng giao cho các em những nhiệm vụ quan trọng để các em thấy mình có giá trị, có tinh thần trách nhiệm hơn.
4. Nguyễn Hoàng Khải
5. Phan Bình Trọng
 
Ban đầu cũng gặp nhiều khó khăn nhưng dần dần từ ảnh hưởng của tập thể lớp, sự khuyên bảo của giáo viên chủ nhiệm các em đã điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hơn và tiến bộ rất nhiều trong học kì II.
Học sinh cá biệt Hạnh kiểm học kỳ I Hạnh kiểm học kỳ II và cả năm
1. Tạ Quốc Duy Trung bình Khá
2. Bùi Thị Thùy Duyên Trung bình Khá
3. Nguyễn Phú Hậu Trung bình Khá
4. Nguyễn Hoàng Khải Trung bình Khá
5. Phan Bình Trọng Trung bình Khá
 
e.  Trường hợp những biện pháp giáo dục kỷ luật trên vẫn không hiệu quả
Đối với những học sinh cá biệt không hợp tác thì GVCN phải áp dụng hình thức kỷ luật cao hơn theo đúng quy định kỷ luật của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo:
 - Mời phụ huynh và hạ hạnh kiểm xuống mức trung bình, yếu ….
 - Khiển trách trước Hội đồng kỷ  luật nhà trường
 - Cảnh cáo trước toàn trường
 - Đuổi học 1 tuần
 - Đuổi học 1 năm
Khi chấp nhận sử dụng phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực thì giáo viên chủ nhiệm chỉ có thể làm như vậy. Chúng ta không thể chửi bới, xúc phạm các em nặng nề, hay phạt lao động liên tục được. Rõ ràng chúng ta biết những phương pháp đó không hề tạo ra kết quả tích cực mà đôi khi còn tạo ra nhiều tình huống nguy hiểm như học sinh bỏ nhà đi, tự tử ...
Dù đối tượng của chúng ta là học sinh giỏi, khá hay cá biệt thì các em đều cần ở chúng ta sự tin tưởng, yêu thương, tôn trọng , cho các em thấy các em có giá trị, trưởng thành. Chúng ta nên giúp các em tự nhận ra lỗi lầm và hướng dẫn các em khắc phục để tiến bộ hơn. Tuy rằng giáo viên chủ nhiệm không thể thay đổi được suy nghĩ của tất cả học sinh nhưng với sự cố gắng, nỗ lực hết khả năng của mình, giáo viên chủ nhiệm sẽ giảm thiểu được tối đa số học sinh bị buộc phải thôi học vì vi phạm nội quy.
C. KẾT LUẬN
I. ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC
1. Ưu điểm
Qua quá trình nghiên cứu và từ thực tế của bản thân tôi nhận thấy: Quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực nếu được giáo viên chủ nhiệm và tập thể lớp hợp tác thực hiện nghiêm túc thì sẽ:
- Giảm áp lực quản lý lớp học vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật. Từ đó giáo viên chủ nhiệm tạo ra sự tin tưởng nơi học sinh, được học sinh tôn trọng, quý mến, xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò
- Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
- Được sự đồng tình, ủng hộ từ phía gia đình, học sinh và xã hội.
- Học sinh có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ cảm xúc, được mọi người quan tâm, tôn trọng và lắng nghe ý kiến .
-  Các em sẽ tích cực , chủ động hơn trong học tập.
-  Các em sẽ tự tin hơn trước đám đông và phát huy được khả năng cá nhân
-  Chúng ta sẽ góp phần đào tạo được những công dân tốt, giàu khả năng phục vụ, cống hiến, cho gia đình, xã hội trong tương lai.
- Giảm thiểu được tệ nạn xã hội, bạo hành, bạo lực. Từ đó góp phần xây dựng nhiều gia đình hạnh phúc và xã hội phồn vinh.  
2. Hạn chế
- Quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục tích cực phụ thuộc rất nhiều vào sự tự ý thức của học sinh cho nên giáo viên chủ nhiệm sẽ gặp nhiều khó khăn khi tiến hành. Giáo viên chủ nhiệm phải bỏ ra nhiều thời gian tìm hiểu đặc điểm của học sinh trong tập thể lớp, chuẩn bị hồ sơ, sổ theo dõi cho Ban cán sự lớp, tổng kết hạnh kiểm hàng tuần để có biện pháp khắc phục nhanh chóng các trường hợp vi phạm
- Đòi hỏi ở giáo viên chủ nhiệm nhiều kinh nghiệm, năng lực và uy tín cao.
- Nếu giáo viên chủ nhiệm không chọn được Ban cán sự lớp vững mạnh, tích cực, trung thực thì không thu nhận được các kết quả khách quan và chính xác và bản “Thang điểm hạnh kiểm” sẽ không phát huy được tác dụng.
- Đối với một số học sinh nhút nhát, sống khép kín hoặc những học sinh lì lợm thì giáo viên chủ nhiệm sẽ không nhận được ý kiến phản hồi hay thái độ hợp tác từ các em, gây khó khăn trong quá trình quản lý lớp.
II. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:
- Để đạt được mục đích giáo dục học sinh bằng biện pháp kỷ luật tích cực, ta cần phải biết chọn điểm xuất phát thích hợp với đặc điểm riêng của từng trường, từng lớp, từng học sinh để lựa chọn biện pháp thích hợp.
- Ngoài bản thân giáo viên chủ nhiệm nỗ lực phấn đấu quản lý lớp thì giáo viên chủ nhiệm còn phải phối hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu, chi hội CHMS trường, tổ chức Đoàn Thanh niên, tổ chức địa phương … trong suốt quá trình triển khai biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực thì mới đạt được hiệu quả giáo dục học sinh toàn diện.
- Giáo viên chủ nhiệm  phải là người có uy tín, có năng lực thực sự để tạo được sự tin tưởng nơi học sinh, tạo được mối quan hệ thân thiết giữa thầy và trò, điều này góp phần rất lớn tạo nên sự trưởng thành ở mỗi học sinh, sự vững mạnh và ngày càng tiến bộ của mỗi lớp học. Cho nên bản thân giáo viên chủ nhiệm phải luôn luôn cố gắng học tập hoàn thiện phẩm chất và năng lực của người giáo viên CNXH, rèn luyện đạo đức, tác phong, mẫu mực trong giao tiếp xã hội, đồng nghiệp và thầy trò, xứng đáng là tấm gương đạo đức cho học sinh noi theo.
Trên đây là một vài ý kiến của cá nhân tôi trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh trong vai trò giáo viên chủ nhiệm, vì thế sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận đ­ược sự góp ý quý báu của Hội đồng xét duyệt chuyên đề cùng quý thầy cô và các đồng nghiệp rất nhiều.  Xin gửi lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe đến Hội đồng xét duyệt, các quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp kính mến .
 

Chuyên đề 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA “BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG” CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM

Thực hiện: GV Phạm Thành Định
Đơn vị: THPT Sông Ray
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện tượng học sinh gây sự, đánh nhau vốn đã tồn tại trong trường học từ rất lâu, tuy nhiên nó mang tính chất bộc phát và hậu quả thường ít nghiêm trọng. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, do sự du nhập của các trào lưu văn hóa khác nhau, “bạo lực học đường” ngày càng tăng cả về tần suất và mức độ nghiêm trọng.
Là một giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT, trước tình hình tệ nạn xã hội bủa vây, diễn biến tâm lý lứa tuổi của học sinh rất phức tạp. Tôi nhận thấy, một trong các nhiệm vụ cấp bách là tìm hiểu rõ nguyên nhân của hiện tượng bạo lực học đường. Từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa và hạn chế học sinh tham gia vào vấn nạn trên.
Với mong muốn đặt vấn đề để quý thầy cô cùng bàn luận, cùng tìm ra các biện pháp tối ưu nhằm ngăn ngừa và đẩy lùi tình trạng học sinh ứng xử với nhau bằng bạo lực và tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra, tôi mạnh dạn xây dựng chuyên đề: Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp trước “vấn nạn bạo lực học đường”ở trường THPT Sông Ray để trình bày trước hội nghị ngày hôm nay.
Bản thân dù đã cố gắng nhưng còn ít kinh nghiệm nên không khỏi có những thiếu sót trong lý luận và thực tiễn, rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ:
1. Cơ sở lý luận:
1.1./  Bạo lực học đường: Tính chất và hậu quả.
  Bạo lực học đường là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính bạo lực như: miệt thị, đe dọa, khủng bố(1),...giữa người với người trong nhà trường. Đó có thể là thầy cô dùng các biện pháp “bạo lực” để trừng phạt học sinh; đó có thể là học sinh giải quyết mâu thuẫn với nhau bằng cách sỉ vả, đánh đập, đâm chém nhau,...Chuyên đề này chủ yếu bàn về khía cạnh thứ hai: học sinh ứng xử với nhau bằng các hành vi bạo lưc.
  Bạo lực trong học sinh diễn ra ngày càng nhiều với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đưa tin về học sinh đánh nhau, hình thức gây án mang tính chất côn đồ, có nhiều vụ các băng nhóm thanh toán nhau theo kiểu xã hội đen.
Về hậu quả, thứ trưởng bộ GD&ĐT Trần Quang Quý nhận định: “học sinh đánh nhau là hành vi tiêu cực, để lại nhiều hậu quả cả về mặt thể chất, tâm lý và tinh thần cho các em, không chỉ làm cho các em lo lắng, đau khổ nhất thời, mà còn làm ảnh hưởng tới sự phát triển tình cảm, xã hội và thể chất của học sinh, khiến thành tích học tập của các em bị giảm sút”(2).
1.2./ Nguyên nhân tình trạng “Bạo lực học đường” gia tăng:
Khi bàn về nguyên nhân dẫn đến tình trạng “bạo lực học đường trong học sinh” gia tăng trong thời gian qua dư luận có nhiều ý kiến khác nhau. Ngoài nguyên nhân chủ quan là sự bồng bột, thiếu chín chắn của lứa tuổi còn có nhiều nguyên nhân khác. Tựu chung lại có hai nguyên nhân chính như GS Vũ Khiêu nhận định: “Một là giáo dục đạo đức trong gia đình, nhà trường, xã hội; mặt khác là sự thiếu nghiêm minh của pháp luật”(3).
Thứ nhất, việc giáo dục đạo đức trong gia đình, nhà trường và xã hội là nhân tố xuyên suốt, quyết định sự hình thành nhân cách của trẻ.
Trước hết, sự tác động trực tiếp và thường xuyên đến nhân cách, đến lối hành xử của học sinh qua các hành vi ứng xử từ gia đình và xã hội. Ở nhiều gia đình không có không khí dân chủ, các thành viên thiếu sự quan tâm chia sẻ và quen ứng xử với nhau bằng bạo lực,.... Trong khi ngoài xã hội bạo lực tràn lan, người ta giải quyết mâu thuẫn một cách nhanh chóng bằng các hình thức bạo lực, mà ở đó chiến thắng luôn thuộc về kẻ mạnh.
Bên cạnh đó, là ảnh hưởng tiêu cực từ phim ảnh, iternet mà đặc biệt là game bạo lực. Theo TS Huỳnh Văn Nam: “Đến với trò chơi điện tử, các em sẽ được làm theo những gì mình thích để thỏa mãn sự tò mò mang tính tâm lý. ...Có rất nhiều trường hợp các game thủ mang chính những “kỹ năng” của mình từ trò chơi điện tử áp dụng vào cuộc sống ngoài đời thực”(4).
Về phía nhà trường, hiện thiên về dạy kiến thức, mà ít giáo dục đạo đức, kỹ năng ứng xử cho học sinh. Thực tế, “dạy học môn giáo dục đạo đức không hiệu quả, không thiết thực, học chưa đi đôi với hành”(5). Giáo viên, phần vì bị áp lực dạy kịp PPCT, dạy để học sinh đi thi; phần vì quản lý quá nhiều học sinh,... nên ít có thời gian quan tâm, gần gũi, chia sẻ với các em. Khi xảy ra sự va chạm trong học sinh, giáo viên chủ nhiệm ít khi giúp đỡ các em giải quyết triệt để, hợp lý vướng mắc dẫn đến mâu thuẫn. Do đó các em thường “tự xử” bằng các hành vi bạo lực.
Đến trường bị áp lực học tập đè năng, về nhà bị bỏ rơi, xã hội thì thờ ơ với các hành vi xấu, từ đó các em trở nên quậy phá, “kiếm chuyện” như là cách để tìm kiếm sự quan tâm và dần trở thành thói quen.
Thứ hai, sự quản lý lỏng lẻo của nhà trường và sự thiếu nghiêm minh của pháp luật cũng là nhân tố làm tăng bạo lực học đường. Ở các trường, việc thực hiện nội quy trường lớp không nghiêm, xử lý kỷ luật không hiệu quả, thiếu các chế tài mang tính răn đe. Phía cơ quan thực thi pháp luật xử lý những kẻ gây rối, làm mất trật tự xã hội chưa nghiêm khắc để làm giương. GS Nguyễn Lân Dũng từng nói:“Nhân đạo với một thiểu số(người giây bạo lưc) tức là không nhân đạo với số đông học sinh”(3). Tôi nghĩ đây là điểm hầu hết các trường đang vướng mắc khi xử lý học sinh tham gia bạo lực.
Vậy, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến bùng phát bạo lực học đường trong những năm gần đây là do thiếu cơ chế phối hợp giáo dục hiệu quả từ ba phía: gia đình, nhà trường và xã hội.
1.3./ Nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên chủ nhiệm lớp:
Căn cứ điều lệ trường THPT, có thể tóm tắt các nhiệm vụ cơ bản của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc giáo dục đạo đức học sinh như sau:
- Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp quản lý học sinh trong lớp; phôi hợp đoàn trường, ban quản sinh và PHHS để quản lí và giáo dục đạo đức học sinh. Tổ chức để lớp thi đua học tập, xây dựng tập thể nề nếp, thân thiện; tạo môi trường để học sinh thực hành các hành vi đạo đức, kỹ năng sống.
- Là người trước tiên nắm bắt những biến động tâm lý của học sinh; đóng vai trò là “nhà tư vấn tâm lý” giúp học sinh tìm ra phương hướng giải quyết các vướng mắc gặp phải trong cuộc sống.
Như vậy giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò quan trọng và có nhiệm vụ ngăn ngừa, hạn chế hành vi ứng xử có tính bạo lực của học sinh lớp mình.
2./ Cơ sở thực tiễn:
2.1./ Thực trạng “Bạo lực học đường” ở trường THPT Sông ray:
Tình hình học sinh vi phạm kỷ luật, trong đó có “bạo lực học đường” ở trường THPT Sông Ray mấy năm qua có xu hướng tăng, cả về số vụ và mức độ. Theo thống kê từ Ban quản sinh của nhà trường tôi có số liệu sau:
TT Năm học Tổng số học
sinh vi phạm
Số lượt học sinh tham gia BLHĐ Mức độ Số học sinh bị kỷ luật đuôi học
Nhẹ Nặng
1 2008 - 2009 35 20 16 4 03
2 2009 - 2010 40 28 19 9 05
3 02 tháng đầu
2010 - 2011
14 7 3 4 04
 
Vấn đề là, còn rất nhiều những mâu thuẫn đang manh nha và nhiều vụ “bạo lực” đã xảy ra bên ngoài mà nhà trường không thể thống kê và xử lý hết được.
2.2./ Nhận thức của  giáo viên làm công chủ nhiệm về “vấn nạn bạo lực học đường”:
Giáo viên làm công tác chủ nhiệm ở trường THPT Sông Ray nói riêng, nhiều nơi khác nói chung cũng rất trăn trở và bức xúc trước tình trạng “bào lực học đường” gia tăng. Tuy nhiên, các phương pháp mà giáo viên được trang bị và áp dụng hiện này ít có hiệu quả. Vì vậy, trong thực tế không ít giáo viên khi có học sinh vi phạm thì đề nghị xử lý kỷ luật nặng như đuổi học hoặc làm các em nản chí bỏ học,...cốt để loại bỏ học sinh cá biệt ra khỏi lớp; mà ít khi tìm biện pháp giáo dục hiệu quả hơn cho từng học sinh.
Qua thực trạng trên tôi đặt ra câu hỏi: Những giải pháp nào hiệu quả để ngăn ngừa và đẩy lùi “bạo lực”  trong nhà trường hiện nay?
3. Các giải  pháp nhằm ngăn ngừa và  từng bước đây lùi bạo lực học đường:
3.1./ Các giải  pháp vĩ mô do các chuyên gia giáo dục và nhà quản lý đề xuất nhằm ngăn ngừa,  từng bước đây lùi bạo lực học đường:
 a) Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình - nhà trường - xã hội. Đồng thời, xã hội và ngành giáo dục cần xác định rõ lại vai trò, vị trí của người thầy, quyền hạn và trách nhiệm trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh. Người thầy và nhà trường phải được bảo vệ danh dự và có đủ cơ chế để răn đe học sinh.
b) Thực thi nghiêm khắc pháp luật, trong đó xử lý triệt để các vi phạm pháp luật về gây rối trật tự xã hội, bạo lực gia đình,..và thực hiện nghiêm các quy định về quản lý dịch vụ internet, ngăn chặn game bạo lực. Qua đó ngăn ngừa thói quen ứng xử bạo lực trong lớp trẻ. Nhà trường cần thực hiện các biện pháp kỷ luật nghiêm minh, hiệu quả để tạo cơ chế răn đe. Kể cả phải áp dụng hình thức đuổi học, bởi như PGS Văn Như Cương từng nói:“nếu không đuổi học thì hình như các hình thức kỷ luật khác không có hiệu quả gì nhiều về mặt giáo dục”(5).
c) Theo TS Đinh Phương Duy: “Cần nghiên cứu bài bản tâm sinh lý lứa tuổi của học trò ngày nay, những nghiên cứu trước đây đã không còn phù hợp với các em trong một điều kiện xã hội mới”(6). Từ đó, trang bị cho các nhà quản lý, giáo viên và phụ huynh phương pháp giáo dục đạo đức phù hợp, hiệu quả hơn.
d) Nhà trường cần quản lý chặt chẽ việc thực hiện nội quy trường - lớp của học sinh. Phải nắm được sơ bộ danh sách các học sinh cá biệt, có dấu hiệu bạo lực để có biện pháp quản lý phù hợp. Thực hiện nghiêm việc cấm học sinh mang “hung khí” tới trường, kể cả việc học sinh mang dao gọt trái cây, kéo cắt giấy,...Phát huy trách nhiệm đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trong việc thường xuyên nhắc nhở học sinh tránh các hành vi ứng xử bạo lực, đồng thời nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của từng học sinh. Phát hiện sớm các vướng mắc trong quan hệ bạn bè của các em, giúp các em tìm hướng giải quyết hợp lý. Tình thương, trách nhiệm là phương thuốc hiệu nghiệm ngăn chặn bạo lực học đường.
 
e) Tổ chức hoạt động ngoại khóa, dạy hoạt động ngoài giờ, dạy nghề phổ thông với hình thức hấp dẫn để thu hút sự quan tâm của học sinh. Qua đó, kết hợp trang bị  kỹ năng ứng xử, phương pháp phối hợp nhóm,...tạo điều kiện để các em giao tiếp, thực hành các hành vi đạo đức; giúp các em hình thành các mối quan hệ bạn bè trong sáng. Đồng thời cần lồng gép việc cập nhật và thông báo các vụ bạo lực học đường điểm hình, tổ chức để các em thảo luận phân tích hậu quả để các em tự rút kinh nghiệm cho bản thân.
3.2./ Một số các giải pháp cụ thể của giáo viên nhằm ngăn ngừa học sinh lớp chủ nhiệm tham gia bạo lực học đường
Ở góc độ là một giáo viên chủ nhiệm lớp, để ngăn ngừa bạo lực xảy ra đối với học sinh lớp mình, qua nghiên cứu tìm hiểu tôi đã áp dụng một số biện pháp cụ thể sau:
Một là, giáo viên cần nắm rõ hoàn cảnh gia đình của học sinh lớp mình, đặc biệt là các học sinh hiếu động hoặc trầm lặng, học sinh cá biệt. Giáo viên nên gặp trực tiếp phụ huynh để trao đổi tìm hiểu thêm về tính cách của học sinh. Từ đó có các biện pháp quan tâm, quản lý, giáo dục phù hợp. Phối hợp chặt chẽ với gia đình để theo dõi, quản lý học sinh về thời gian, bạn bè,...của các em. Hai trường hợp cụ thể tôi đã áp dụng biện pháp này mang lại hiệu quả như sau: Trường hợp thứ nhất, đầu năm học 2009 -2010, em Nguyễn Hồng Phúc – học sinh lớp 12B8 (do tôi chủ nhiệm) thường xuyên vi phạm nề nếp. Khi đến nhà, làm việc với phụ huynh tôi được biết: Phúc là con mẹ kế, do ba của em so bì em với anh chị con mẹ cả (vốn rất thành đạt); nên em rất bất mãn, chán nản và hay nói dối người lớn. Một trường hợp khác, đầu năm học 2010 -2011 qua trao đổi với phụ huynh tôi được biết em Nguyễn Phú Điền(lớp 12B5 do tôi chủ nhiệm) là một học sinh lớn tuổi do ở lại lớp hai lần, rất tích cực tham gia công việc nhà nhưng hay tự ái, tự ty,...Từ thông tin có được, tôi đã có sự tác động phù hợp để hai em nghiêm túc thực hiện nội quy, khi các em vi phạm tôi có biện pháp trách phạt phù hợp tránh để các em bất mãn, chống đối nhưng vẫn nghiêm, công bằng.
Hai là, giáo viên chủ nhiệm phải là địa chỉ tin cậy để học sinh tâm sự, chia sẻ từ đó có được các thông tin rất cần thiết và kịp thời. Muốn vậy, giáo viên phải chủ động tìm hiểu kiếm thông tin về bạn bè, sở thích, năng khiếu của các em. Rồi chủ động tiếp cận và sử dụng những thông tin có được để tâm sự, chia sẻ với các em, qua đó bày tỏ quan điểm của mình trong giáo dục. Điều này có tác dụng rất quan trọng, nừa thể hiện sự quan tâm của mình tới các em khiến các em sẽ nể phục và tin tưởng vào giáo viên hơn. Sau nữa khi được giáo viên thăm hỏi các em sẽ trung thực hơn. Khi tạo được uy tín và niềm tin từ học sinh, giáo viên sẽ nhận được nhiều thông tin kịp thời để có biện pháp giải quyết sớm các sự việc, nhất là các mâu thuẫn giữa học sinh với nhau. Các trường hợp điển hình tôi đã áp dụng có hiệu quả như sau: Trường hợp thứ nhất, năm học 2004 – 2005, tôi chủ nhiệm lớp 10C14 có em Phạm Thị Nhã Phương là một học sinh cá biệt, qua bạn bè tôi biết được vài thông tin về nhóm bạn của Phương, khi trò chuyện với em tôi nhắc tới họ, em rất ngạc nhiên, từ đó em khá trung thực với thầy chủ nhiệm và thực hiện nội quy trường lớp nghiêm túc hơn. Trường hợp thứ hai, hết học kỳ I năm học 2008 – 2009, tôi cho học sinh viết Bản tự kiểm có mục “Nhân xét cán bộ lớp và bày tỏ ý kiến cá nhân”; qua đó phát hiện em Nguyễn Thị Cẩm Nhung là thủ quỹ lớp 11C (do tôi chủ nhiệm) sử dụng tiền quỹ không rõ ràng. Sau sự việc, em Nhung tuyên bố sẽ gọi người “xử” những bạn tố cáo mình. Nhờ thư góp ý, tôi biết sớm và xử lý ổn thỏa, lớp trở lại vui vẻ, đoàn kết.
Ba là, thực hiện kỷ luật nghiêm minh, rõ ràng và công bằng; trên cơ sở tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của sự việc, giúp học sinh có phương hướng giải quyết triệt để những vướng mắc. Một điều quan trọng là: vào đầu năm triển khai nội quy trường lớp giáo viên chủ nhiệm phải giải thích thêm các mức độ kỉ luật cho từng vi phạm, giải thích rõ hậu quả của từng mức độ kỷ luật. Tổ chức hệ thống cán bộ lớp – chi đoàn đủ mạnh vừa để tổ chức các hoạt động của lớp, vừa theo dõi đầy đủ việc thực hiện nề nếp của các thành viên; hàng tuần có báo cáo, cuối tháng có tổng hợp. Biện pháp này phải trở thành biện pháp nhắc nhở, răn đe thường xuyên tới từng cá nhân qua đó điều chỉnh hành vi của các em. Tôi đã áp dụng biện pháp này với em Nhung(nêu trên). Sau khi kiểm tra thông tin và xác định em vi phạm ba lỗi: sử dụng tiền quỹ sai quy định; kéo bè, kéo phái làm mất đoàn kết lớp và có ý đồ tổ chức đánh nhau. Tôi cho họp lớp kỷ luật, cắt nhiệm vụ thủ quỹ, bắt bồi thường tiền của lớp, xếp hạnh kiểm trung bình học kỳ I. Đồng thời giao nhiệm vụ mới là trưởng ban văn nghệ lớp và đặt ra mục tiêu lớp phải có tiết mục tham gia đêm chung kết hội thi văn nghệ của trường. Qua theo dõi, nhắc nhở, động viên; Nhung tiến bộ rõ rệt, hoàn thành nhiệm vụ được giao và hết lớp 12 thi đậu vào Trường Cao đẳng y tế Đồng Nai, ngành điều dưỡng. Một trường hợp khác, năm học 2009 – 2010 em Lê Quang Trọng (lớp 12B8 – do tôi chủ nhiệm) do đánh bài nợ tiền không có trả dẫn đến ăn cắp xe đạp nhằm bán trả nợ nhưng không thành. Sau khi bị nhà trường kỷ luật đuổi học 01 tuần em trở lại lớp học nhưng vẫn tiếp tục xích mích với nhóm bạn mà em nợ tiền. Khi có thông tin từ lớp, tôi làm việc với em để nắm rõ nguyên nhân sự việc. Tôi đã mời phụ huynh của em lên, yêu cầu gia đình cho em mượn số tiền 800 ngàn đồng để trả cho bạn. Đồng thời, yêu cầu Trọng viết cam kết phải nghiêm túc học tập, không vi phạm kỷ luật và trả lại tiền cho gia đình sau một năm ra trường. Biện pháp này giúp em giải quyết triệt để nguyên nhân sự việc, tập trung cho học tập và cuối năm mặc dù học yếu nhưng em đã thi đậu tốt nghiệp và đi học trung cấp nghề.
Bốn là, xây dựng phong trào văn nghệ, tổ chức đố vui để học trong lớp hàng tuần vào 20 phút cuối giờ sinh hoạt; tổ chức mừng ngày 8/3: các em nam tặng quà(tự làm) cho các bạn nữ,... Qua đó giúp học sinh tự tin hơn trong hoạt động phong trào, có niềm vui khi tới lớp và tăng sự gắn kết giữa các em trong tập thể. Nhờ vậy mà ở lớp 12B8 năm học 2009 – 2010 có rất nhiều em học yếu, bế tắc,...nhưng vẫn đến lớp không bỏ học như em Nguyễn Hồng Phúc, em Nguyễn Đình Ngọc, Lê Quang Trọng (nói trên)...
4. Kết quả
 Kết quả giáo dục học sinh qua các năm tôi đảm nhận công tác chủ nhiệm như sau:
TT Năm học Lớp chủ nhiệm Số lượt HS vi phạm nội quy Số HS vi phạm đánh nhau Số HS bị đuổi học Số HS nghỉ học
1 2004 - 2005 10 C14 35 03 03 04
2 2005 - 2006 11 C14 32 01 01 02
3 2008 - 2009 11 C 26 00 00 00
4 2009 - 2010 12 B8 26 01 01 00
 
  Qua bảng thống kê trên tôi rút ra được những điểm tích cực và hạn chế việc áp dụng những giải pháp nêu trên như sau:
4.1./ Tích cực:
- Khi thực hiện đồng bộ các giải pháp trên thì học sinh có thái độ học tập và thực hiện nội quy nhà trường nghiêm túc hơn. Số học sinh vi phạm nội quy nhà trường giảm, trong đó những vi phạm về hành vi gây gổ, đánh nhau giảm mạnh.
- Qua đó học sinh trong lớp đoàn kết, thân thiện hơn, tạo không khí thoải mái, vui vẻ trong các giờ giải lao, tiết sinh hoạt và các buổi dã ngoại. Từ đó, tạo mối liên hệ găn kết giữa các em với tập thể, học sinh sẽ vì tập thể để cố gắng học tập và rèn luyện, giảm thiểu học sinh bỏ học.
4.2./ Hạn chế:
- Để giải quyết triệt để “bạo lực học đường” cần có hệ thống giải pháp đồng bộ của nhà trường và cả xã hội. Các biện pháp trên chỉ áp dụng trong phạm vi lớp chủ nhiệm, nhưng hành vi bạo lực của học sinh còn chịu tác động của các yếu tố bên ngoài, mà giáo viên chủ nhiệm hay nhà trường không tự giải quyết được(do người ngoài gây sự đánh nhau với học sinh).
- Các biện pháp chỉ có hiệu quả giáo dục, răn đe nhằm ngăn ngừa học sinh vi phạm kỷ luật; trong khi đó, ở lứa tuổi này nhiều khi do sự bồng bột, thiếu kiềm chế,...mà nhiều sự việc đáng tiếc vẫn xảy ra.
III. KẾT LUẬN:
1./ Nhận định chung:
Bạo lực học đường đã trở thành một vấn nạn, để ngăn ngừa và từng bước đẩy lùi cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, khoa học từ ngành giáo dục và xã hội. Để giải quyết dứt điểm vấn nạn này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba bên: nhà trường, gia đình và xã hội. Trước mắt, nhà trường và giáo viên chủ nhiệm cần tăng cường phối hợp với gia đình quản lý và giáo dục đạo đức để ngăn ngừa học sinh tham gia bạo lực và tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
2./ Bài học kinh nghiệm:
- Nhà trường tăng cường quản lý học sinh, phát huy hiệu quả các hoạt động ngoại khóa nhằm giảm bớt áp lực học tập, giải tỏa tâm lý “sợ đi học” ở học sinh. Có biện pháp phát huy vai trò giáo viên chủ nhiệm trong việc theo dõi biến động tâm lý học sinh để có phương án giáo dục phù hợp. Tôi có quan điểm: Nơi có áp lực lao động, học tập cao thì những căn bệnh về tâm lý càng nặng. Bạo lực học đường phần nhiều xuất phát từ căn bệnh tâm lý, nếu nó được “chẩn đoán và chữa trị” sớm chắc chắn “căn bệnh” bạo lực sẽ giảm.
- Giáo viên chủ nhiệm cần có sự nhiệt tình và nghệ thuật trong giáo dục học sinh, cần phối hợp chặt chẽ với gia đình để quản lý, giáo dục đạo đức học sinh một cách thường xuyên, nhẹ nhàng và hiệu quả. Tình thương và trách nhiệm là liều thuốc quyết định cho hiệu quả trong giáo dục đạo đức học sinh.
3./ Kiến nghị:
- Các trường cần xây dựng phòng tư vấn học đường tạo điều kiện và niềm tin để hoc sinh chia sẻ những vướng mắc giặp phải trong cuộc sống và giúp các em giải quyết hợp lý các tình huống khó khăn.
- Nhà trường cần tăng cường quản lý học sinh, thực hiện nghiêm nội quy trường lớp, kỷ luật nghiêm minh là biện pháp răn đe hữu hiệu để ngăn ngừa bạo lực trong nhà trường.
- Ngành giáo dục cần xem xét lại chế độ cho giáo viên chủ nhiệm, bởi trách nhiệm giáo dục đạo đức học sinh ngày càng khó khăn, đòi hỏi sự đầu tư cả thời gian và công sức.
 

Chuyên đề 4: “GIẢI PHÁP CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG VIỆC NGĂN NGỪA HỌC SINH ĐÁNH NHAU MANG TÍNH BẠO LỰC”

Thực hiện:  GV Lê Thanh Lâm
Đơn vị:  THPT Tam Phước
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận:
- Theo lời Bác Hồ dạy, nhiệm vụ của người thầy là “Củng cố dạy chữ, nâng cao dạy người”, mỗi giáo viên không ngừng học tập để nâng cao kiến thức, nhằm góp phần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân mà trước hết là bồi dưỡng về kiến thức, giáo dục về nhân phẩm cho học sinh.
- Năm học 2010-2011 đối với giáo dục phổ thông, ngành giáo dục sẽ thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng nhằm tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Bộ GD-ĐT sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều nội dung mới. Đặc biệt, từ năm học này bộ sẽ tổ chức triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục trong năm học mới này là: nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy chữ; từng bước đẩy mạnh hướng nghiệp, dạy nghề ở các địa phương có điều kiện và chú trọng vấn đề dạy làm người trong nhà trường.
2. Cơ sở thực tiễn
Gần đây vấn đề bạo lực học đường đang được dư luận rất quan tâm và được coi là một hiện tượng xã hội đã đến mức nguy hiểm và nghiêm trọng. Có rất nhiều cuộc hội thảo về chuyên đề phòng chống bạo lực trong nhà trường để đưa ra những biện pháp nhầm giải quyết hiện tượng bạo lực trong học sinh. Có ý kiến cho rằng “Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới hiện tượng trên đó chính là tình trạng nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người làm giảm hiệu quả của việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, chưa quan tâm đầy đủ và huy động các nguồn lực cần thiết cho công tác giáo dục đạo đức học sinh”. Việc giáo dục đạo đức, nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh là việc làm thường xuyên và cần phải thực hiện bằng nhiều kênh khác nhau. Tuy nhiên, trong nhà trường vấn đề tu dưỡng đạo đức cho học sinh là trách nhiệm của các thầy cô giáo, không thể phủ nhận  vai trò của người giáo viên chủ nhiệm  trong việc hình thành nhân cách của học sinh. Với thực trạng bạo lực trong học đường hiện nay, người giáo viên chủ nhiệm  cần phải làm gì để ngăn chặn và giúp học sinh phát triển nhân cách trở thành những con người lao động sáng tạo, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước, có đức có tài?
Là một giáo viên trẻ còn rất ít kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm, song tôi cũng mạnh dạn nêu ra một vài kinh nghiệm của bản thân, một số công tác giáo dục học sinh đã làm tại lớp chủ nhiệm, đã thực hiện tại đơn vị đang công tác trong việc ngăn ngừa tình trạng học sinh đánh nhau mang tính bạo lực.
II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu.
Nghiên cứu vai trò của GVCN lớp trong công tác giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách học sinh để ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường.
Đề ra những giải pháp hợp lý đối với tình trạng bạo lực học đường ở trường THPT
2. Phạm vi nghiên cứu
Học sinh Trường THPT Tam Phước – Biên Hòa – Đồng Nai
3. Khách thể nghiên cứu
- Thực trạng và giải pháp của GVCN đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh, ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường
4. Mẫu khảo sát
- Nghiên cứu quá trình chủ nhiệm lớp năm học 2007 -2008 - Trường THPT Tam Phước – Biên Hòa – Đồng Nai
5. Giả thuyết khoa học.
- Thực hiện tốt vai trò của người  GVCN trong công tác giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách học sinh sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường.
III. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
Hiện tượng học sinh đánh nhau là một thực tế không mới nhưng những hiện tượng đánh nhau của học sinh ở một số nơi gần đây đã trở nên phổ biến và bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng. Mâu thuẫn thường xuất phát từ một vài lý do rất đơn giản, nếu bình thường có thể cho qua một cách dễ dàng nhưng lại được học sinh giải quyết bằng vũ lực, nhẹ thì dùng tay chân,  nghiêm trọng hơn là các em đã sử dụng biện pháp đánh nhau có vũ khí gây nguy hiểm đến tính mạng.
Để giáo dục, ngăn chặn học sinh không mắc sai lầm  nêu trên chúng ta không thể thực hiện chỉ trong vài giờ lên lớp mà phải tốn khá nhiều thời gian. Cần phải biết tìm hiểu,lắng nghe học sinh, uốn nắn kịp thời khi phát hiện có hiện tượng “không bình thường” xảy ra trong lớp học. Phải đề ra kế hoạch, phương pháp giáo dục phù hợp cho từng trường hợp đặc biệt bằng cả tấm lòng yêu thương nhân ái của người thầy.
Đầu năm học 2007- 2008, được ban lãnh đạo phân công chủ nhiệm lớp 12A9. Thực hiện vai trò của người  GVCN trong công tác giáo dục đạo đức, ngăn ngừa tình trạng mâu thuẫn, bạo lực ở học sinh, tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn:
1. Về phía nhà trường
a. Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo và lãnh đạo đoàn kết thống nhất của Chi bộ Đảng, Ban giám hiệu nhà trường, các tổ chức Đoàn thể như Đoàn TN, Công đoàn, các GVCN,…
-  Được sự giúp đỡ và kết phối hợp liên tục của các lực lượng an ninh trên địa bàn như : Công an, Quân đội
- Hoạt động của Đoàn Thanh Niên chủ động, sáng tạo.
- Học sinh của trường đa phần là con em có cha mẹ đang công tác tại trường SQ Lục Quân II, Trung học An Ninh Nhân dân II, Hạ sĩ quan xe tăng Thiết Giáp, Trường Giáo dưỡng số 4, do đó phần đa là các em học sinh có ý thức đạo đức tốt, cố gắng học tập.
b. Khó khăn
Trường nằm trên Quốc lộ 51, học sinh ở rải rác khắp các địa bàn của 5 xã (Tam Phước, Phước Tân, An Hòa, Long Hưng, và một phần của xã An Viễn thuộc huyện Trảng Bom), đặc biệt là nơi tập trung khu công nghiệp, trong các giờ cao điểm rất dễ xảy ra các hiện tượng va quẹt xe, gây xích mích, mất trật tự ATGT,… gây khó khăn không nhỏ trong công tác quản lý của trường.
2. Về phía học sinh
a. Thuận lợi
- Sĩ số lớp không quá đông: 45 học sinh.
- Hầu hết các em có ý thức kỷ luật tốt, lễ phép với thầy cô, hoà đồng với bạn.
- Tích cực tham gia hoạt động tập thể do Đoàn thanh niên và nhà trường tổ chức.
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, sát sao trong vấn đề bảo đảm an ninh trường lớp.
- Đội ngũ giáo viên bộ môn trẻ có chuyên môn khá vững nhiệt tình trong giảng dạy.
- Ban chi hội phụ huynh học sinh rất nhiệt tình với công việc của lớp, luôn quan tâm tới học sinh và thường xuyên phối hợp với GVCN để giải quyết các vấn đề liên quan tới học sinh trong lớp.
b. Khó khăn
- Các học sinh trong lớp thuộc nhiều xã khác nhau, con đường đến trường có em phải đi hơn chục cây số.
- Một số học sinh trong lớp chưa có ý thức trong học tập và tu dưỡng đạo đức.
- Các em đang ở lứa tuổi 17- 18, dễ bị kích động, thích thể hiện mình…..
- Một số em thiếu thốn tình cảm: bố mất sớm, bố mẹ li dị ….
3. Bản thân giáo viên chủ nhiệm
- Tuổi đời  và tuổi nghề còn ít (8 năm công tác, 6 năm làm chủ nhiệm)
- Ở xa nơi công tác, xa địa bàn dân cư nơi có học sinh theo học nên việc nắm thông tin về học sinh mình chủ nhiệm gặp không ít khó khăn.
IV. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN VỀ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
1.           Thực trạng:
Trước đây, chúng ta thường có tâm lí chủ quan nghĩ rằng bạo lực học đường là một vấn đề hết sức xa xôi, không xảy ra phổ biến. Đồng thời cũng vì thế mà không ý thức được sâu sắc về tầm ảnh hưởng, tác động, hậu quả nghiêm trọng của nó tới thế hệ trẻ nói riêng, con người nói chung. Song thời gian gần đây, bạo lực học đường có chiều hướng gia tăng, phát triển phức tạp và trở thành một vấn đề nóng bỏng, một vấn nạn nhức nhối khiến mọi người không khỏi bàng hoàng, kinh ngạc. Phải chăng đó là một dự báo “sóng ngầm đang thành bão”. Đứng trước thực trạng đó mỗi chúng ta cần nhận thức và hành động như thế nào?
a)           Biểu hiện của bạo lực học đường có thể xảy ra dưới nhiều hình thức như:
-              Xúc phạm, lăng mạ, xỉ nhục, đay nghiến, chà đạp nhân phẩm, làm tổn thương về mặt tinh thần con người thông qua lời nói.
-              Đánh đập, tra tấn, hành hạ, làm tổn hại về sức khỏe, xâm phạm cơ thể con người thông qua hành vi bạo lực.
b)          Chứng minh:
-              Chỉ cần một thao tác rất nhanh trên Google ta có thể tìm thấy hàng loạt các Clip bạo lực của nữ sinh.
-              Học sinh có thái độ không đúng mực với thầy cô giáo, dùng dao đâm chết bạn bè, thầy cô . . .
-              Lập nên các nhóm hội hoạt động đánh nhau có tổ chức.
-              Giáo viên đánh đập xúc phạm nhân phẩm của học sinh . . .
-              Bạo lực không chỉ xuất hiện trong nam sinh mà hịện nay đã lan truyền đến các học sinh nữ. Các clip nữ sinh đánh nhau được tải lên mạng bắt đầu xuất hiện từ năm 2008. Thời gian gần đây, các clip có nội dung này ngày càng nhiều.
2.           Nguyên nhân:
-              Xảy ra vì những lí do trực tiếp rất không đâu: Nhìn đểu, nói móc, tranh giành ngừơi yêu, không cùng đẳng cấp . . .
-              Sự phát triển thiếu toàn diện, thiếu hụt về nhân cách, thiếu khả năng kiểm soát hành vi ứng xử của bản thân, non nớt trong kĩ năng sống, sai lệch trong quan điểm sống.
-              Do ảnh hưởng từ môi trường văn hóa bạo lực: phim, ảnh, sách báo, đồ chơi mang tính bạo lực (súng, kiếm) trên Internet hoặc phát tán qua đĩa. Các game hành động với các pha chém giết, chuyện đấu đá băng nhóm – bang hội. Không thể tránh được ảnh hưởng xấu của các hình ảnh bạo lực tới đầu óc học sinh khi mà gần như ngày nào các em cũng tiếp xúc với chúng. Tuổi trẻ thường có xu hướng bắt chước và thử nghiệm, việc làm theo các hình ảnh, hình tượng đó hoàn toàn là điều dễ hiểu.
-              Sự giáo dục chưa đúng đắn, thiếu quan tâm của gia đình, tình trạng bạo lực trong gia đình cũng là nhân tố ảnh hưởng không tốt. Và một khi bạo lực giađình vẫn còn tồn tại thì bạo lực học đường sẽ vẫn còn có nguy cơ gia tăng.
-              Sự giáo dục trong nhà trường nặng về dạy kiến thức văn hóa, đôi khi lãng quên nhiệm vụ giáo dục con người “tiên học lễ hậu học văn”
-              Xã hội thờ ơ, dửng dưng, buông xuôi, chưa có sự quan tâm đúng mức, những giải pháp thiết thực, đồng bộ, triệt để. Chúng ta quá thờ ơ với những sự kiện bạo lực xảy ra, chủ yếu là vì sợ hãi. Một người không thể can thiệp được, nhưng chúng ta đã bao giờ nghĩ rằng nhiều người hợp sức chắc chắn sẽ ngăn được cuộc đánh nhau ấy không ? Chúng ta đã để cho kẻ mạnh chiến thắng mà không cần quan tâm tới công lí. Với nếp tư duy như vậy, bạo lực nói chung, bạo lực học đường nói riêng sẽ ngày càng lan rộng hơn.
-              Nguyên nhân khác nữa là bắt nguồn từ môi trường sống. Hầu như các em học sinhn có tâm lí bạo lực đều có bố mẹ là dân xã hội đen, đã từng tù tội. Do vậy môi trường các em tiếp xúc từ bé đã quen với nếp sống của thế giới tội phạm. Với những đối tượng như vậy,  trường học mặc định coi các em như đối tượng cá biệt, khó đào tạo và luôn dành cho các em sự trừong phạt và dè bỉu. Từ sự mặc cảm với nhà trường, với bạn bè, tạo tâm lí thù ghét trường học ở các em và các em đã biến thế giới học đường thành nơi để các em chứng tỏ quyền lực
3.           Hậu quả:
-              Với nạn nhân:
·                          Tổn thương về thể xác và tinh thần
·                          Tổn hại đến gia đình, người thân, bạn bè người bị hại
·                          Tạo tính bất ổn trong xã hội: tâm lí lo lắng bất an bao trùm từ gia đình, nhà trường, đến xã hội.
-              Người gây ra bạo lực:
·                          Con người phát triển không toàn diện: phát triển ngựơc mất dần nhân tính trở lại phía “con”, đi ngược lại tính “người”
·                          Mầm mống của tội ác mất hết tính người sau này làm hỏng tương lai chính mình, gây nguy hại cho xã hội, bị mọi người lên án, xa lánh, căm ghét.
V. MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Nhà trường
+ Tuyên truyền:
- Tuyên truyền sâu rộng trong PHHS các lớp, cán bộ giáo viên công nhân viên nhà trường về việc ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật, bạo lực trong học sinh, đảm bảo an ninh trật tự trong trường học.
- Tuyên truyền tới học sinh trong các tiết sinh hoạt lớp và Chào cờ đầu tuần, lồng ghép vào bài giảng. Các thông tin về hoạt động của nhà trường, những tâm sự chân thành của các bạn học sinh, những chia sẻ, định hướng của ban giám hiệu và các thầy cô giáo đều liên tục được gửi đến hơn một nghìn học sinh của nhà trường với mục đích xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.
+ Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống, tổ chức các hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc gắn liền phong trào thi đua trong học sinh do Đoàn thanh niên tổ chức..
+  Phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các tổ chức đoàn thể và gia đình để đảm bảo an ninh trật tự trong trường học.
+ Kết hợp với công an địa phương (xã Tam Phước) xử lý kịp thời các mâu thuẫn, ngăn chặn các biểu hiện, hành vi pháp luật, bạo lực học sinh.
+ Kiểm tra ngăn chặn học sinh mang theo vũ khí, đồ chơi nguy hiểm, chất nổ, chất cháy vào trường học.
+ Tổ chức cho 100% HS kí cam kết thực hiện nội quy học sinh trong đó cóviệc ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật, bạo lực trong học sinh.
+ Tổ chức lễ phát động, thường xuyên đánh giá việc ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật, bạo lực trong học sinh toàn trường vào giờ chào cờ thứ 2, sinh hoạt lớp hàng tuần .
+ Tăng cường CSVC xây dựng trường ngày càng khang trang,sạch đẹp tạo sân chơi trong môi trường: vui tươi, bổ ích, lành mạnh và không có các tệ nạn xã hội trong học đường .
- Nhà trường đã phối kết hợp với Công an địa phương để đảm bảo vấn đề an ninh trường lớp, kịp thời ngăn chặn khi học sinh có những biểu hiện vi phạm pháp luật, bạo lực học sinh.
- Thành lập Ban quản sinh, đội Cờ đỏ thường xuyên theo dõi, giám sát việc thực hiện nội quy của học sinh, đề xuất các biện pháp xử lý học sinh vi phạm.
- Cho học sinh viết bản cam kết thực hiện nội qui nhà trường, Phòng chống Ma tuý, HIV/AIDS, An toàn giao thông, trật tự xã hội… Các bản cam kết này phải có ý kiến của PHHS và chữ ký xác nhận của GVCN.
- Thường xuyên tổ chức kiểm tra nội vụ các lớp học ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực trong học sinh, giảm đáng kể các hiện tượng gây gổ đánh nhau, ngăn chặn không để xảy ra việc sử dụng các loại văn hoá phẩm đen, các biểu hiện tiêu cực.
-  Trong các buổi sinh hoạt dưới cờ Ban giám hiệu nhà trường luôn dành nhiều thời gian để tổng kết đánh giá thi đua của các lớp, trong đó nhấn mạnh việc thực hiện ý thức tổ chức kỷ luật, khen chê kịp thời. Tuyên truyền các chủ trương mới, chính sách pháp luật mới của nhà nước, các qui định về trật tự ATGT,…
- Mời các đoàn nghệ thuật về biểu diễn tuyên truyền luật giao thông, phòng chống ma tuý, HIV/AIDS. Mời các cán bộ nói chuyện tuyên truyền về tình hình trật tự kỷ cương trong huyện và thành phố.
- Lồng ghép hoạt động ngoại khoá với giáo dục luật pháp, truyền thống văn hoá, gắn với phong trào thi đua xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
- Giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh, giáo viên đã được cử đi học các lớp tập huấn và giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh.
- Mở các buổi hội thảo tư vấn, tuyên truyền pháp luật, tư vấn cho học sinh: Cuộc  thi “ Tìm hiểu an toàn giao thông”…thông qua đó giáo dục nhân cách, đạo đức học sinh
- Các dịp chuẩn bị lễ 22/12 và 20/11 nhà trường đã mời các Đảng viên về nói chuyện truyền thống nhằm giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh. Ví dụ: Học sinh được giao lưu với Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Thương
- Thực hiện việc xử lý các học sinh vi phạm nội qui của trường theo đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục & Đào tạo
- Đầu và cuối mỗi buổi học trường và công an xã cùng dân phòng đã phối hợp chặt chẽ ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực có thể xảy ra. Các đội xung kích, cờ đỏ thường xuyên theo dõi thi đua của các lớp.
2. Lớp chủ nhiệm
a. Giáo viên chủ nhiệm cần nắm chắc đặc điểm tình hình của lớp mình để tổ chức quản lý, điều phối các hoạt động.
Ngoài việc theo dõi sĩ số lớp, thành phần nam/nữ học sinh GVCN cần nắm rõ thành phần gia đình thông qua bản sơ yếu lí lịch tự thuật của học sinh để biết được học sinh nào có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học sinh thuộc diện chính sách và những học sinh gia đình không hạnh phúc, bố mẹ li dị hoặc mất sớm… thông qua đó có thể phần nào thông cảm, chia sẻ với học sinh có hoàn cảnh khó khăn và hiểu các em hơn.
b. Giáo dục đạo đức thông qua các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hàng tuần
Thực chất của việc giáo dục đạo đức phải bắt nguồn từ việc tác động về mặt nhận thức, xây dựng những rung cảm đạo đức, hình thành nhu cầu và niềm tin hướng tới các chuẩn mực đạo đức cũng như các yêu cầu có liên quan mới có thể hình thành một hành vi đạo đức mang tính tâm lý. Để học sinh nhận thức được các vấn đề có liên quan trong giờ sinh hoạt GVCN chỉ dành khoảng 15 phút để GV tổng kết tình hình học tập, vệ sinh, chuyên cần... của lớp; 30 phút còn lại tổ chức cho HS sinh hoạt
Giờ sinh hoạt bắt đầu bằng những tóm tắt kết quả học tập và rèn luyện của cả lớp trong tuần của ban cán sự lớp. Thông qua sổ đầu bài, sổ cờ đỏ của Đoàn trường, các Giáo viên bộ môn, GVCN nhận xét, đánh giá từng HS, luôn luôn nhắc nhở và động viên tinh thần các em, tạo động lực giúp cả lớp cố gắng hơn.
Ngoài việc nhắc nhở các em về vấn đề học tập GVCN cũng nên thường xuyên đề cập tới những vấn đề liên quan tới ý thức, đặc biệt thường xuyên nhắc nhở các em trong việc ứng xử với nhau trong lớp cũng như với học sinh ngoài lớp tránh xảy ra những hiện tượng xích mích không đáng có.
c. Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và các lực lượng giáo dục khác
- Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong trường
Song song với hoạt động học tập, sinh hoạt, tham gia các phong trào trong nhà trường, sau những giờ học căng thẳng là giờ nghỉ giải lao các em được tự do vui chơi không chịu sự giám  sát của thày cô như trong giờ học nên thường là lúc nảy sinh ra các mâu thuẫn không đáng có trong lớp cũng như với các lớp khác. Nếu không kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục khác (GVCN lớp khác, GV bộ môn, Đoàn trường, bảo vệ…) để tiếp nhận thông tin từ lớp mình thì sẽ không nắm bắt kịp thời và có thể xảy ra xô xát giữa học sinh các lớp.
Ví dụ: Ngay đầu năm học, lớp 12A9 xảy ra hiện tượng một học sinh trong lớp bị học sinh lớp 12A5 gây gổ dẫn tới xô xát trong khi ra về. Để ngăn chặn không cho tình trạng trên tiếp diễn. GVCN đã phối hợp cùng quản sinh, GVCN lớp của em  học sinh lớp 12, phụ huynh học sinh của 2 em  cùng giải quyết sự việc. Trước tiên chúng tôi cho các em ngồi viết tường trình về sự việc xảy ra. Sau khi đọc tường trình, chúng tôi thấy rõ lỗi thuộc về em học sinh lớp 12A5, do em hiểu nhầm dẫn tới việc đánh HS lớp 12A9. Sau khi nghe chúng tôi phân tích em HS lớp 12A5 đã nhận ra lỗi của mình và viết kiểm điểm, xin lỗi em HS lớp 12A9  trước sự chứng kiến của GVCN 2 lớp, phụ huynh học sinh và quản sinh của nhà trường. Em học sinh lớp 12A9 cùng phụ huynh cũng rất đồng tình, vui vẻ với cách giải quyết của chúng tôi.
Trong buổi sinh hoạt lớp tuần đó, GVCN cũng đã nêu sự việc trước toàn thể lớp. Phân tích một lần nữa cho các em nhận thức được mức độ nghiêm trọng của sự việc khi các em tự mình giải quyết mọi mâu thuẫn không trao đổi với người lớn và GVCN. Thông qua sự việc tự mỗi học sinh trong lớp sẽ rút ra bài học cho riêng mình.
- Phối hợp với phụ huynh học sinh
Nhà trường có thế mạnh về giáo dục nhận thức, thông qua nhận thức tác động tới tình cảm, nhưng nhà trường không thể nào gần gũi hiểu sâu được từng cá nhân HS, có tác động tình cảm liên tục như gia đình được. Do vậy, muốn  giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho HS thì GVCN cần phải phối hợp với phụ huynh học sinh để đem lại kết quả tốt hơn đồng thời sự phối hợp với PHHS sẽ giải quyết các hiện tượng mâu thuẫn không đáng có giữa các em học sinh để không xảy ra hậu quả nghiêm trọng.
d. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khoá
Trong các buổi hoạt động ngoại khoá do lớp tổ chức nên tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho HS. Trong đạo đức, lối sống có ý thức công dân, ý thức chấp hành pháp luật. Rèn luyện những kỹ năng sống như ứng xử trong nhóm, giải quyết những xung đột nhằm hạn chế hướng giải quyết tiêu cực của bản thân các em khi có xung đột.
Hướng cho học sinh tự xây dựng cho mình một mục đích sống, một cuộc sống lành mạnh và tốt đẹp, không có tệ nạn xã hội, không bạo lực. Điều đó phần nào giúp cho cá nhân mỗi học sinh tránh được những cám dỗ của các tệ nạn, hạn chế những khó khăn về mặt tâm lý và sức khoẻ, tránh rơi vào các hành vi sai lệch.
e. Cách phòng tránh
+ Về phía nhà trường:
·                  Thứ nhất, tăng cường giám sát học sinh, đặc biệt là thời gian đầu giờ hoặc cuối giờ học vì đây là thời điểm thường hay xảy ra những vụ học sinh đánh nhau.
·                  Thứ hai, tăng cường đội ngũ trực nhật như giáo viên trực, chi đoàn trực; kết hợp với lực lượng dân phòng giám sát để kịp thời ngăn chặn những hành vi bạo lực.
·                  Thứ ba,  tăng cường giáo dục các em, phải làm cho các em nhận thấy chuyện đánh nhau là hành vi xấu, có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.
·                  Trường phối hợp chặt chẽ với hội phụ huynh học sinh, từng phụ huynh đối với trường hợp học sinh cá biệt. Việc kết hợp với gia đình là không thể thiếu được trong phòng chống bạo lực học đường.
+ Về phía gia đình và bản thân học sinh cần trang bị cách phòng tránh sau:
·                         Báo ngay với giáo viên: Phụ huynh có thể đặt ra tình huống giả định để phân tích giúp học sinh chọn cách ứng xử hợp lý, rèn luyện cho con mình bản lĩnh dám báo cáo với giáo viên khi một bạn cùng học bị bắt nạt. Ví dụ: Trường hợp bạn A bị đánh và “hộ tống” đi nơi khác để bị đánh tiếp, các học sinh có đủ dũng khí báo ngay sự việc cho thầy cô giáo không? Lời khuyên đầu tiên cho học sinh là giải pháp báo cáo trung thực lại sự việc cho giáo viên khi cảm thấy có nguy cơ bị bắt nạt trên đường đến trường, tại sân trường hay trong lớp học. Một trong những nguyên nhân các em không báo cho giáo viên biết sự việc vì sợ mình trở thành kẻ mách lẻo hay bị vạ lây. Hãy phân tích cùng học sinh để thấy sự khác biệt giữa mách lẻo và thông báo lại sự việc. Sự dũng cảm kịp thời chỉ bằng một tin nhắn!
·                         Hô to và ra dấu khi bị bắt nạt: Cha mẹ có thể hướng dẫn con mình những kỹ năng sống đơn giản như hô to hay ra dấu hiệu kêu cứu cho người lớn ở gần. Chắc chắn khi nghe tiếng “cứu cháu với” từ một học sinh hẳn sẽ thu hút được sự chú ý của người xung quanh. Sự cứu giúp kịp thời sẽ giải thoát cho học sinh và làm nguy cơ xấu giảm đi.
·                         Cha mẹ hãy thoải mái đàm luận, chia sẻ cùng con về tình huống cháu đang vướng mắc. Thường xuyên khích lệ, khơi gợi con trò chuyện về tình hình ở lớp, ở trường. Có điều gì khiến con không thoải mái, chán ghét hay bị bắt nạt.
·                         Cần nắm chi tiết của sự việc xô xát: Gia đình biết chắc sự thật và tầm quan trọng của việc nắm chi tiết vụ việc xảy ra, do đó đừng nên hỏi con mình bằng cách tra vấn ai liên quan, ở đâu, khi nào và tình trạng bị bắt nạt đến mức nào. Điều này tuy không dễ nhưng vì con mình, bạn cần bình tĩnh, khéo léo để tìm được câu trả lời liệu con mình có liên quan đến vụ ẩu đả đó không và bị bắt nạt như thế nào.
·                         Gặp giáo viên thảo luận về tình trạng bị bắt nạt: Có thể giáo viên cũng chưa nắm được vụ việc con bạn bị bắt nạt ở trường. Nếu giáo viên và nhà trường biết, chắc chắn sự việc sẽ có tiến triển hoàn toàn khác. Phụ huynh cần trợ giúp con bằng cách chủ động hẹn gặp và thảo luận với giáo viên về vụ việc đó. Nếu cần một giải pháp, một cách giải quyết khác hơn, Phụ huynh có thể gặp hiệu trưởng thông báo về vụ việc đó.
·                         Chỉ cho học sinh những nguyên nhân dễ dẫn đến xung đột
- Bằng hình ảnh: Bắt chước những cử chỉ điệu bộ, giao tiếp bằng vẻ mặt không thân thiện, châm chọc qua các hình ảnh, tranh, hình vẽ...
- Bằng ngôn từ: Đó là cách đặt cho bạn những nickname phản cảm hay những câu đùa thô bạo, hay loan truyền các câu chuyện chế nhạo, lời lẽ đe dọa và xúc phạm bạn bè.
- Bằng hành động: Ném đồ vật, xô đẩy, va chạm, cản đường đi, đánh đấm, giật tóc, dẫm vào chân nhau... có thể làm tổn thương người khác.
·                         Nên dạy học sinh  biết nói lời cảm ơn và xin lỗi nhiều hơn.
V. KẾT LUẬN
Bạo lực học đường là vấn đề được coi là vấn nạn trong học đường hiện nay, Bộ GD-ĐT phát động phong trào xây dựng môi trường học đường thân thiện. Thế nhưng, thế nào là môi trường thân thiện, môi trường này có những tiêu chuẩn nào cần đảm bảo? Khi mọi yếu tố chưa quy về thành những tiêu chí có thể đo lường thì vấn đề sẽ khó được giải quyết. Vấn đề giáo dục đạo đức, giáo dục những hành vi trong nếp sống - trong quan hệ đối xử trở thành vấn đề trọng tâm trong văn hóa học đường. Thiết nghĩ đây chính là một trong những vấn đề cần đáng được quan tâm trong việc phòng chống bạo lực học đường hiện nay.
Thực chất của việc giáo dục đạo đức phải bắt nguồn từ việc tác động về mặt nhận thức, xây dựng những rung cảm đạo đức hình thành nhu cầu và niềm tin hướng đến các chuẩn mực đạo đức cũng như các yêu cầu có liên quan mới có thể hình thành một hành vi đạo đức mang tính chất tâm lý chứ không phải kỹ thuật. Việc định hướng ứng xử trong những mối quan hệ khác nhau phải dựa trên nền tảng của việc thiết lập những nguyên tắc ứng xử dựa trên thang giá trị chuẩn mực của văn hóa ứng xử - giao tiếp trong học đường. Mặt khác, đó còn là việc huấn luyện, bồi dưỡng những kỹ năng ứng xử - giao tiếp cho học sinh nhằm trang bị cho học sinh một số kỹ năng giao tiếp - ứng xử chuẩn mực hướng đến việc xây dựng văn hóa học đường theo hướng tích cực.
Xây dựng ý thức và thói quen của giáo viên trong việc ứng xử giao tiếp một cách có văn hóa, xem đó là một nhiệm vụ của người giáo viên nơi trường học. Tác động về mặt nhận thức của học sinh để có sự ứng xử chuẩn mực, định hướng những giá trị của con người một cách đích thực. Đó là những nhiệm vụ thực sự cấp bách.
 

 Chuyên đề 5:  SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG NHÀ TRƯỜNG; HỘI CHA MẸ HỌC SINH, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH.

Thực hiện: GV Trương Thị Quýt
Đơn vị: THPT Trương Vĩnh Ký
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chúng ta ai cũng hiểu rằng: Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt trong hoạt động xã hội của con người, thực hiện chức năng hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người nói chung trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức cũng nảy sinh từ nhu cầu của xã hội.
Về đạo đức học sinh nói riêng vừa mang ý thức hệ xã hội, vừa phải phù hợp với các quy định và chuẩn mực của xã hội; đồng thời phải phù hợp với những quy định của nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay. Do đó trong hoạt động giáo dục đạo đức học sinh không thể xem nhẹ và tách rời giữa giáo dục nhà trường với gia đình và xã hội.
Quá trình giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường, đối tượng là những học sinh vi phạm về mặt đạo đức, những hành vi vi phạm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Mục đích giáo dục của chúng ta là giúp cho các em sửa chữa những hành vi sai lệch đó để các em xây dựng lại nhân cách theo những chuẩn mực đạo đức quy định.
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
Trường THPT Tư thục Trương Vĩnh Ký được thành lập từ năm 2002, tọa lạc trên địa bàn Thị xã Long Khánh, gần bến xe và chợ đầu mối của Thị xã. Học sinh chủ yếu ở các phường, các xã vùng ven, các huyện khác đến như Xuân Lộc, Cẩm Mỹ và một số em từ Bình Phước, Bình Thuận, Bà Rịa … chuyển đến; số lượng và quy mô lớn, hiện nay có 1974 em cùng 36 lớp. Với địa bàn như vậy nên việc giáo dục đạo đức cho học sinh có những khó khăn, thuận lợi sau:
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của chi bộ Đảng, Hội đồng quản trị, Ban giám hiệu nhà trường và chính quyền địa phương nơi trường đóng.
- Tập thể sư phạm nhà trường đều có ý thức và tinh thần trách nhiệm đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh.
- Hội cha mẹ học sinh rất nhiệt tình và thường xuyên phối hợp, chăm lo đến các hoạt động của nhà trường, nhất là công tác giáo dục đạo đức học sinh.
- Nhiều học sinh, tập thể lớp nguồn có ý thức tổ chức kỉ luật, có tư cách đạo đức tốt là hạt nhân cho cá nhân và tập thể khác noi theo.
2. Khó khăn:
 - Do đặc thù của một trường Tư thục thu hút nhiều học sinh không cùng địa bàn nên ít nhiều chịu ảnh hưởng tiêu cực, các tệ nạn xã hội trong nền kinh tế thị trường.
- Một số phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến giáo dục con em, còn nuông chiều, bảo thủ, phó mặc cho nhà trường, thậm chí có phụ huynh còn bất lực trước con cái.
- Trong quá trình thực hiện, có lúc sự phối hợp chưa thống nhất giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh làm trở ngại đến chất lượng giáo dục đạo đức học sinh.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Từ xa xưa, ông cha ta đã khẳng định: “Tiên học lễ, hậu học văn”; ngày nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Điều đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn đức là cái gốc, là yếu tố căn bản và quan trọng quyết định nhân cách của một con người. Trong quá trình hoạt động giáo dục đạo đức ở nhà trường phổ thông, giáo viên chủ nhiệm là người ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách học sinh. Bởi vì giáo viên chủ nhiệm là người nắm vững hoàn cảnh và sự tiến bộ của từng học sinh. Giáo viên chủ nhiệm là người nhận xét, đánh giá và xếp loại đạo đức học sinh, là người đề nghị khen thưởng, kỷ luật học sinh. Cho nên trong nhà trường giáo viên chủ nhiệm chính là người thay mặt hiệu trưởng đảm nhận vai trò chủ đạo trong công tác tổ chức giáo dục đạo đức học sinh, giáo viên chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm chủ yếu công việc dạy người cho học sinh. Do đó giáo viên chủ nhiệm chính là cầu nối giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
Chính vì vậy sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường; Hội cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, khi mà sự phát triển thông tin khoa học ngày càng mạnh mẽ, nhân cách học sinh ngày càng xuống cấp. Nếu chúng ta phối kết hợp tốt, làm đúng mọi quy trình giáo dục đạo đức phù hợp với quy luật nhận thức sẽ giúp cho học sinh ý thức và điều chỉnh hành vi của mình, điều chỉnh các mối quan hệ, tạo sự hòa hợp trong giao tiếp giữa các em với cha mẹ, thầy cô; tất cả các yếu tố đó sẽ góp phần hình thành và phát triển nhân cách  học sinh, đáp ứng được mục đích của giáo dục là tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực.
Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung hiện tại của toàn xã hội, bên cạnh những mặt tích cực, những thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước thì cũng không ít những mặt tiêu cực ảnh hưởng xấu đến thế hệ trẻ làm cản trở quá trình giáo dục đạo đức học sinh của chúng ta. Vì vậy, là giáo viên chủ nhiệm tôi luôn xác định, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm cần thiết và được đặt lên hàng đầu. 
B. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
Từ thực trạng trên, muốn nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức ở học sinh nói chung và ở trường THPT Tư thục Trương Vĩnh Ký nói riêng, theo tôi trước hết giáo viên chủ nhiệm phải biết thực hiện tốt các phối kết hợp sau:
1. Giáo viên chủ nhiệm với tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường:
 Đây là lực lượng đông đảo, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường, là lực lượng nòng cốt trong phong trào thanh niên, là nơi để các em thể hiện bản lĩnh của mình, là nơi giáo dục đạo đức lối sống lành mạnh tốt nhất cho học sinh. Chính vì thế mà giáo viên chủ nhiệm cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn thanh niên để đẩy mạnh phong trào thi đua giữa tập thể và cá nhân nhằm tạo sự chuyển biến sâu rộng cả về nhận thức lẫn hành động góp phần hạn chế, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực ở học sinh. Tổ chức cho các em vui chơi, nghe những bài hát truyền thống, qua các bài hát này giúp các em hiểu thêm về lòng yêu quê hương đất nước, yêu làng xóm, tình yêu thầy cô, yêu người thân, yêu bạn bè…, tìm hiểu nội dung ý nghĩa các ngày kỉ niệm, các ngày lễ lớn của dân tộc. Từ đó giáo dục học sinh về lòng yêu nước, truyền thống cách mạng, xây dựng cho các em tinh thần tập thể, sống vì mọi người.
Tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: văn nghệ, thể dục thể thao, những trò chơi dân gian như nhảy bao bố, đua xe đạp chậm, kéo co, cướp cờ…, câu lạc bộ đố vui để học, ngoại khóa,…các hoạt động này sẽ cuốn hút nhiều học sinh tham gia. Các nhà tâm lý cho rằng: đối với học sinh trung học phổ thông, ở độ tuổi mà tâm lý lứa tuổi phát triển mạnh, các em có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước; thích giao lưu tìm hiểu, thích đua đòi ăn chơi, thích khẳng định mình là người lớn…trong khi đó các kiến thức về hiểu biết tự nhiên, xã hội, hiểu biết về gia đình, hiểu biết về pháp luật các em còn rất hạn chế, thậm chí có em còn mơ hồ. Do đó các em chưa có trách nhiệm với hành vi của mình, nên dẫn đến phạm tội, vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nội quy nhà trường. Nếu chúng ta không tổ chức tốt các hoạt động cho học sinh thì các em sẽ tìm đến nơi khác như quán bi da, trò chơi điện tử…để vui chơi và dễ bị các phần tử xấu lôi kéo vào con đường hư hỏng, phạm tội. Thông qua các hoạt động này vừa rèn luyện ý thức kỉ luật, tinh thần đoàn kết vừa hình thành những kỹ năng sống cho các em vừa rèn luyện đạo đức, giúp các em ý thức và điều chỉnh được hành vi của mình.
Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cùng với Đoàn tuyên truyền về tác hại của các vi phạm, các tệ nạn xã hội, tổ chức học tập, quán triệt cho học sinh về nội quy nhà trường vào đầu năm học, vào giờ chào cờ đầu tuần, vào giờ sinh hoạt lớp. Tăng cường công tác kiểm tra nề nếp phát hiện vụ việc và xử lí kịp thời, giúp các em thấy được hành vi sai trái của mình để sửa chữa. Ban Thi đua của Đoàn trường làm tốt công tác xếp loại và đánh giá thi đua giữa các lớp hàng tuần, hàng tháng nên kích thích được phong trào. Hoạt động này cũng là một khía cạnh giúp các em phát triển nhân cách của mình.
2. Giáo viên chủ nhiệm với Hội cha mẹ học sinh:
Đây là cầu nối quan trọng nhất, có mối liên hệ mật thiết và có hiệu quả giáo dục tốt nhất. Để đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức do nhà trường đề ra, giáo viên chủ nhiệm phải chủ động phối hợp thường xuyên với gia đình, Hội cha mẹ học sinh để thông tin về tình hình học tập, rèn luyện đạo đức của con em nhằm bàn biện pháp phối kết hợp giáo dục.
Như chúng ta đã biết, phụ huynh là người đỡ đầu cho tương lai, sự nghiệp của các em khi các em bước vào cổng trường và ở nhà trường giáo viên chủ nhiệm phải làm gì để việc học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh đạt kết quả cao nhất.
Thực tế cho thấy nhiều bậc phụ huynh vẫn luôn băn khoăn tự hỏi không biết con mình đến trường, đến lớp có đầy đủ hay không? Và khi đến lớp rồi các con có học hành nghiêm túc hay không? hay chỉ đến cho đủ số buổi lên lớp và cho vui hoặc đàn đúm với bạn bè, còn kiến thức, ý thức kỉ luật thì thế nào cũng được. Vậy giáo viên chủ nhiệm là người đầu tiên giúp cho phụ huynh biết, để hàng ngày các bậc phụ huynh dù ở nhà hay đi làm xa môi trường học tập của các em hàng chục, thậm chí hàng trăm cây số (ở Bình Thuận, Bình Phước, Bà Rịa…) phụ huynh vẫn nắm rõ tình hình lên lớp và khả năng tiếp thu bài vở , ý thức tổ chức kỉ luật, thực hiện nội quy học sinh của con em mình. Đã có phụ huynh khi được giáo viên chủ nhiệm mời đến cung cấp thông tin mới biết con mình không ngoan, học không giỏi như lâu nay vẫn tưởng. Để giải quyết được những băn khoăn, những ngộ nhận, chủ quan trên của phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm trường Trung học phổ thông tư thục Trương Vĩnh Ký đã thực hiện một số giải pháp thiết thực như  sau: 
* Hằng ngày, bằng tin nhắn qua điện thoại di động, trường chủ động thông báo cho cha mẹ hay người đỡ đầu của mỗi học sinh các thông tin về học tập và rèn luyện đạo đức như: nghỉ học, cúp tiết, những vi phạm nề nếp…mỗi khi phụ huynh nhận được tin nhắn, phụ huynh phản hồi lại một cách kịp thời cho giáo viên chủ nhiệm. Biện pháp này đưa đến hiệu quả nhanh chóng, phụ huynh sẽ biết con mình ngày đó nghỉ học thực sự hay ở nhà có đi học nhưng ở trường thì không có mặt, hoặc vi phạm đồng phục, đi học trễ…Có những trường hợp phụ huynh nhận được tin nhắn con mình nghỉ học không xin phép là phụ huynh đi tìm ngay và thấy con ở
quán Internet thế là phụ huynh đưa con đến trường gặp giáo viên chủ nhiệm. Qua trao đổi, phân tích học sinh thấy được dù cha mẹ ở nhà nhưng vẫn biết con mìnhđang làm gì ở trường, từ những việc làm này giúp các em học sinh không tái phạm nữa.
* Thông báo kết quả học tập, rèn luyện đạo đức của mỗi học sinh với phụ huynh bằng phiếu điểm, phiếu liên lạc. Mỗi năm, bốn kì (giữa HKI, HKI, giữa HKII, HKII) giáo viên chủ nhiệm gửi phiếu điểm, phiếu liên lạc sau khi các em kiểm tra, thi tập trung xong đã có kết quả. Trên phiếu điểm và phiếu liên lạc được thể hiện rõ các cột điểm: điểm kiểm tra miệng, điểm kiểm tra 15 phút, điểm kiểm tra một tiết, điểm thi, và lời phê của giáo viên chủ nhiệm. Qua phiếu điểm, phụ huynh sẽ biết được môn nào con mình học tốt, môn nào cần đầu tư thêm, môn nào cần nhắc nhở học thuộc lí thuyết nhiều hơn; cũng qua phiếu điểm (phiếu điểm phụ huynh giữ lại, phiếu liên lạc nộp cho giáo viên chủ nhiệm) phụ huynh biết được môn nào con học có tiến bộ, môn nào điểm bị thấp hơn kì trước, đồng thời cũng so sánh được sự tiến bộ hay không tiến bộ về rèn luyện đạo đức của con mình. Thông tin này giúp cho phụ huynh biết được việc học tập và rèn luyện đạo đức của con mình sau mỗi kỳ.
* Ngoài những thông tin trên, khi cần thiết, giáo viên chủ nhiệm cần phải gặp trực tiếp bố hoặc mẹ những học sinh vi phạm để phối hợp cách giáo dục có hiệu quả nhất. Bởi vì thực tế cho thấy ở lớp có em không chịu học bài, ngồi nói chuyện, kết bè để nói xấu bạn, gây sự với những bạn xung quanh, mặc không đúng đồng phục quy định, hút thuốc,… tình yêu bạn bè làm ảnh hưởng đến học tập và vi phạm nội quy. Khi giáo viên chủ nhiệm mời đến trao đổi thì mới vỡ lẽ, con mình không ngoan như mình tưởng, chính nhờ vậy mà sự kết hợp giáo dục các em có hiệu quả hơn.
Ví dụ: Học sinh  Phan Thị Kỳ D.  lớp 11B4
Đầu năm học là một học sinh ngoan, học được nhưng do sa vào con đường tình cảm yêu đương bạn bè quá sớm nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập, vi phạm nề nếp như:
- Nhiều lần mặc không đúng đồng phục quy định, không phù hiệu.
- Đi học trễ nhiều lần. Vô lễ với giáo viên.
- Nghỉ học nhiều ngày không xin phép, nhất là những ngày học trái buổi.
- Không thuộc bài nhiều lần, bất kì môn nào giáo viên gọi lên bảng trả lời đều không thuộc bài.
 Giáo viên chủ nhiệm nhắc nhở, yêu cầu em viết bản kiểm điểm, khiển trách em trước lớp; nhắn tin, gọi điện thoại về nhà báo tin những lỗi vi phạm của em cho
phụ huynh biết nhưng cũng không làm thay đổi được những sai lầm của em. Tìm hiểu ra mới biết nguyên nhân là do em đang yêu một học sinh khác lớp, cùng khối. Gia đình bảo khi nào em đi học cũng sớm nhưng đến lớp thường trễ giờ, có ngày nghỉ học thì em lớp kia cũng nghỉ luôn. Cuối cùng giáo viên chủ nhiệm phải viết giấy mời, mời phụ huynh lên gặp nhà trường, về nhà em không đưa giấy mời cho phụ huynh. Khi giáo viên đình chỉ việc học của em, thì em lại có thái độ vô lễ với giáo viên. Trong lúc gặp phụ huynh, giáo viên bảo em tự nói ra những lỗi sai phạm của mình cho phụ huynh nghe, có những lỗi em không nói (có thể là em quên cũng có thể do cha mẹ đã răn dạy nhiều ở nhà nên em sợ), khi giáo viên chỉ ra các lỗi vi phạm mà em không nói ra thì em mới công nhận. Phụ huynh nghe những lỗi vi phạm của con mình như vậy mới vỡ lẽ con mình không ngoan như mấy lâu nay mình tưởng. Với những vi phạm trên biết sẽ đưa ra Hội đồng kỉ luật thì người mẹ ân hận vì mấy lâu nay ngộ nhận, chủ quan phó mặc cho nhà trường.
Sau khi đưa ra Hội đồng kỉ luật cảnh cáo trước toàn trường, từ đó đến nay em D. tiến bộ thấy rõ, giáo viên gọi lên bảng không bị điểm yếu, đi học chuyên cần, nghỉ học bố hoặc mẹ đến xin phép, không bao giờ đi học trễ.
 * Đối với Hội cha mẹ học sinh vừa là chủ thể tiến hành giáo dục con em ở gia đình đồng thời cũng phải chịu một phần trách nhiệm về quá trình giáo dục học sinh ở nhà trường, nhất là đối tượng học sinh chậm tiến. Trong những năm qua, Hội cha mẹ học sinh của trường THPT Tư thục Trương Vĩnh Ký đã thực sự tham gia vào quá trình giáo dục con em, làm tốt công tác phối hợp giáo dục đạo đức, nhất là việc xử lí kỷ luật học sinh. Việc xử lí kỷ luật học sinh là bất đắc dĩ, trong chúng ta không ai muốn, nhưng vì kỉ cương của nhà trường nên phải thi hành kỷ luật học sinh. Việc thi hành kỷ luật cũng là cần thiết để vừa xử lí học sinh vi phạm, vừa răn đe nhắc nhở những em khác vừa phòng ngừa các biểu hiện xấu có thể xảy ra, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Những lúc này, tiếng nói của Ban đại diện Hội cha mẹ học sinh vô cùng quan trọng, vừa giúp cho các em thấy được hành vi sai phạm của mình không phải là do ác cảm của thầy cô, vừa giúp cho cha mẹ các em thấy được sự công bằng trong việc xử lí kỷ luật của con mình. Bên cạnh đó phụ huynh cũng phải luôn luôn theo dõi thường xuyên con em mình, không nên phó mặc cho nhà trường.
3. Giáo viên chủ nhiệm với chính quyền địa phương và các các tổ chức xã hội:
Thực tế cho thấy, ngoài những vi phạm về học tập, vi phạm về nề nếp ở trong trường học; học sinh còn có những hành vi vi phạm sau giờ học và ngoài trường học. Như những vụ đánh nhau có tổ chức, chỉ vì những xích mích nhỏ ở trong lớp, trong trường mà ra cổng trường là các em tụ tập đánh nhau. Rồi đi xe lạng lách, chạy nhanh vượt ẩu vi phạm luật giao thông. Nhờ có lực lượng công an địa phương điều tra, cung cấp thông tin, thông báo tình hình học sinh vi phạm cho nhà trường, giáo viên chủ nhiệm cùng cha mẹ học sinh phối hợp giáo dục giúp các em điều chỉnh hành vi của mình. Ngược lại nhà trường thông báo cho địa phương những học sinh cá biệt, những học sinh bị kỷ luật đuổi học để địa phương quản lí. Chính vì vậy sự phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội như lực lượng công an, dân phòng,… trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ngoài giờ lên lớp là một việc làm đáng quan tâm. Nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội, góp phần ngăn chặn và làm giảm các vụ việc xảy ra ở học sinh, giúp cho các em có lối sống lành mạnh, ý thức công dân ngày càng rõ nét hơn.
Ngoài ra, nhà trường kết hợp cùng với công an tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh vào các giờ chào cờ đầu tuần. Những lúc tan học, đề phòng các em có thể tụ tập gây sự đánh nhau hoặc vi phạm trật tự an toàn giao thông, giáo viên nhà trường cùng với công an địa phương luôn giám sát theo dõi nên không có những vụ việc đáng tiếc nào xảy ra.
 IV. KẾT LUẬN:
Trên đây là thực trạng, là những giải pháp trong quá trình làm công tác chủ nhiệm bản thân tôi rút ra được và đã thực hiện cùng với những đề xuất để làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh đáp ứng được yêu cầu của trường THPT Trương Vĩnh Ký. Nếu mọi thành viên trong nhà trường, các bậc phụ huynh cũng như các tổ chức đoàn thể trong xã hội đều thấy rõ được tầm quan trọng và lợi ích của công tác giáo dục đạo đức học sinh, biết đề cao trách nhiệm, cùng phối hợp hành động vì mục tiêu chung sẽ đem lại nhiều kết quả cho nhà trường và xã hội cũng ngày càng tốt đẹp hơn./.
 

 Chuyên đề 6: SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN, TRONG NHÀ TRƯỜNG; HỘI CHA MẸ HỌC SINH, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH

Thực hiện:  GV Huỳnh Quang Sơn
Đơn vị:  THPT Long Phước
   I.                 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc - nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân – cá nhân và quan hệ cá nhân – xã hội.
Hiện nay, bên cạnh nhiều học sinh (HS) học giỏi – sống tốt, không ngừng hướng đến cái chân – thiện – mĩ, đem lại hạnh phúc lớn cho gia đình và xã hội vẫn còn một bộ phận HS thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức. Các em nhận thức về đạo lí, hiện tượng đời sống vẫn hạn chế, nông nổi,... nên chỉ từ vụ việc đơn giản dẫn đến phức tạp, gây ra những vụ đâm chém, đánh nhau, làm mất tình hình an ninh trật tự, thậm chí dùng hung khí gây thương tích nặng và tử vong cho bạn bè, kể cả người thân trong gia đình một cách đáng tiếc. Nguyên nhân sự xuống cấp về đạo đức ở một bộ phận HS thật quá đa dạng. Nhưng cũng từ đây, nhiều quan niệm tích cực được đề xuất : Phải đẩy mạnh phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội và các tổ chức đoàn thể trong việc giáo dục đạo đức, pháp luật, kĩ năng sống cho HS. Sự phối hợp này phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể và thiết thực mà nhà trường phải đóng vai trò chủ động. Đúng vậy, đã đến lúc chúng ta phải thay đổi quan điểm về quản lí, áp dụng biện pháp kỉ luật nghiêm khắc đối với HS... để HS được học tập và rèn luyện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.
Nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010 – 2011 cũng tiếp tục đề cao công tác giáo dục đạo đức cho HS : Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện 03 cuộc vận động và 01 phong trào : cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí  Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Tổ chức tổng kết 4 năm cuộc vận động “Hai không” trong toàn ngành giáo dục. Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh.
“Trường học thân thiện” đương nhiên giáo viên chủ nhiệm (GVCN) phải “thân thiện” với tổ chức Đoàn thanh niên (ĐTN) trong trường, thân thiện với Ban đại diện cha mẹ HS,  chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội thuộc địa bàn hoạt động của nhà trường. Nhà trường hơn bao giờ hết không thể đứng độc lập, cần có sự phối hợp, liên kết với nhiều ngành khác thì mới giáo dục tốt HS hơn được. 
Qua chuyên đề Sự phối hợp giữa GVCN với tổ chức đoàn, trong nhà trường; Hội cha mẹ HS, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức HS, chúng tôi sẽ đưa ra những kinh nghiệm thực tiễn để góp phần tham luận cùng đồng nghiệp. Vì xuất phát từ kinh nghiệm nên chuyên đề này chỉ nhấn mạnh những điều thực sự đã áp dụng hiệu quả tại nhà trường của chúng tôi.
II.                 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.             Cơ sở của vấn đề
­   Giáo sư Hồ Ngọc Đại khẳng định: Gia đình, nhà trường và xã hội luôn được coi là “tam giác” giáo dục quan trọng đối HS. Điều đó có nghĩa cái kiềng ba chân ấy sẽ trở nên khập khiễng, nếu thiếu bất kì chân  nào.
­    Thực tế đã và đang có sự phối hợp thiếu sự nhịp nhàng :
+                               Về phía nhà  Nhà trường: Những năm qua, bệnh thành tích trong ngành giáo dục ít nhiều có làm sa sút niềm tin vào hiệu quả giáo dục và uy tín nhiều mặt của thầy giáo đôi khi bị sa sút...
+                               Về phía Đoàn trường: Hoạt động Đoàn còn mang nặng tính hình thức, hoạt động ngoại khóa chưa phong phú và tích cực, chưa có sân chơi để giáo dục kĩ năng sống cho HS trong ứng xử với các mối quan hệ.
+                               Về phía phụ huynh HS : Gia đình thu nhập kinh tế cao hay thấp cũng vẫn lao vào bươn chải, nhiều khi họ không có thời gian để chia sẻ với con; hoặc quá nuông chiều, quá kì vọng. Trong việc dạy dỗ con mình thì “con học yếu tự thầy, con hư tự trường”. Không ít cha mẹ khi được thông báo về tình hình của con mới giật mình bởi mọi chuyện đã đi quá tầm kiểm soát của họ, thậm chí chỉ biết chắp tay vái lạy con...
+                               Về Xã hội: Đã xâm nhập vào trong trường học; tình trạng thiếu văn hóa giao thông, nghiện Internet, lười học... nay lại lún sâu vào tệ nạn Bạo lực học đường. Nghịch lí thay đôi khi hiện tượng này xảy ra cả ở nữ sinh. Nhiều HS xem đánh nhau để thỏa ý thích, sinh ra bệnh vô cảm.
­   Ngày 03/10/2010 BGD & ĐT có công văn Số 4556/BGDĐT-NGCBQLGD V/v tổ chức Hội thảo “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” thể hiện sự chỉ đạo kịp thời của ngành giáo dục đối với công tác hết sức khó khăn này. Phòng Trung học sở GD – ĐT Đồng Nai đã định hướng cho các trường THPT tìm hiểu sâu về công tác chủ nhiệm không ngoài mục đích chỉ đạo các trường xây dựng tốt môi trường giáo dục thân thiện để giáo dục đạo đức HS có hiệu quả cao.
Như vậy, nhà khoa học đã dày công tạo ra con đường để quản lí giáo dục quốc gia theo chiều hướng tích cực, nhà quản lí giáo dục đã lựa chọn con đường ấy. Vấn đề còn lại là GVCN lớp phải biết tin tưởng, suy nghĩ và hành động trong sự phối hợp nhịp nhàng với cả hệ thống chính trị xung quanh nhà trường. GVCN lớp phải cụ thể hóa những chủ trương, những công trình nghiên cứu có giá trị lớn lao, giàu ý nghĩa. Cố nhiên sự cụ thể hóa ấy phải có điểm sáng riêng và có hiệu quả thiết thực.
2.           Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp phối hợp công tác
a)                 Công tác chủ nhiệm
 Trong tam giác giáo dục, GVCN là người chủ động. Vì vậy, GVCN phải làm tốt công việc từ đơn giản đến phức tạp của mình.
­   Trước hết, chúng tôi thường xuyên ý thức GVCN phải thật sự là tấm gương về nhân cách cho HS. Người GV phải yêu nghề, yêu ngành và giáo dục nhân cách HS từ trong tư chất của mình. Tác phong sinh hoạt, làm việc hằng ngày phải mang tính sư phạm, tính khoa học. Tư cách đạo đức được thể hiện qua ngôn ngữ giao tiếp phải giản dị, trí tuệ, tình cảm và có tính thuyết phục. Thầy giáo không thể đến trường mang dép giẫm đạp lên quai, không thể để tóc dài... trang phục phải gọn gàng, mô phạm. Chúng tôi thường dặn HS hiểu đúng ý nghĩa câu nói: ăn cho mình, mặc cho người, HS đã có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận về trang phục. Dù ở trạng thái tâm lí thế nào thì GV khi vào lớp cũng phải nở nụ cười và ánh mắt thân thiện, ổn định tổ chức lớp không sơ cứng mà phải linh hoạt sao cho HS thấy lúc nào thầy cô cũng chia sẻ được vui, buồn với tập thể lớp. Những việc vừa nêu tuy nhỏ nhưng tính chất rất lớn.
­   Phải phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Ngành giáo dục, Ban giám hiệu, đoàn thể, kế hoạch của lớp, chi đoàn. GVCN phải ý thức mình là hiệu trưởng của một lớp. Một số đồng nghiệp còn hiểu lầm về quan niệm này. Với chúng tôi, danh từ ấy như nhắc nhở GVCN vào đầu năm học cần phổ biến và phân tích nội quy HS cùng các điều cấm để HS hiểu đúng và hiểu sâu. Trong năm học giúp HS hiểu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, truyền thống, ý nghĩa các ngày lễ lớn... qua đó giáo dục lẽ sống cao đẹp cho các em. Chỉ có hiểu biết mới gợi được hiểu biết, không để HS rơi vào tình trạng sống trong thời đại thông tin được tri nhiều mà không thật sự thức.
­   GVCN tổ chức thực hiện và thực hiện tốt các công việc liên quan đến lớp và HS do hiệu trưởng chỉ đạo hàng tuần, hàng tháng, học kì. Muốn tạo môi trường thân thiện, muốn tránh bạo lực học đường, thiết tưởng công việc chỉ đạo này là khởi đầu của mọi khởi đầu, là phòng bệnh từ xa.
+                   Nắm chắc và tin tưởng vào kế hoạch của hiệu trưởng. Triển khai và dùng uy tín, quyền hạn của mình để quyết định các công việc. HS thực thi công việc với tất cả trách nhiệm của mình. Chuyển tải được khối lượng công việc đầu tuần sẽ định hướng tốt cho phong trào thi đua của lớp.
+                     Phải tìm hiểu hoàn cảnh, tâm lí, phải tạo cho HS tâm sự trực tiếp hoặc gián tiếp với GVCN. Một trong những cách làm là chúng tôi gửi cho các em biểu mẫu, ngay từ đầu năm, GVCN đã nắm được một số chi tiết như : Đoàn viên? Có hoàn cảnh khó khăn nào ảnh hưởng đến học tập? Gia đình đang có mấy anh chị em học phổ thông? Năm trước học lớp nào? GVCN cũ? Năng khiếu cá nhân? Bạn thân nhất trong lớp? Định thi vào trường chuyên nghiệp nào? Học tập thấy khó nhất các môn nào? Biện pháp tự khắc phục ra sao? Có nhận xét gì về tập thể lớp đang học? Có đóng góp ý kiến gì cho sự đi lên của lớp? Có đóng góp ý kiến gì với GVCN mới? Nắm rõ hoàn cảnh HS, GVCN sẽ có kế hoạch đề nghị cấp học bổng..., hướng nghiệp nghề, chia sẻ vui buồn, hướng dẫn cách học từng môn khó đối với HS, chủ động trả lời những câu hỏi đột xuất của đồng nghiệp, hiệu trưởng, đặc biệt là của công an địa phương khi họ điều tra tội phạm, khi HS cúp tiết... Lắng nghe HS tâm sự là gặt hái rất nhiều ý kiến hay để rồi thầy trò hiểu nhau và giúp GV bộ môn chia sẻ với HS, cuốn hút HS có trách nhiệm và gắn bó với lớp V.v... Mặt khác có một số chi tiết bổ sung vì những định hướng trong sổ chủ nhiệm (in sẵn) in không đầy đủ : Phương tiện đến trường của HS? dự kiến thi Đại học, cao đẳng?  Số điện thoại cần báo gấp? Diện ưu tiên? nghề nghiệp cha (mẹ)? Địa bàn cư trú? năng khiếu? Khi cần báo tin số điện thoại?
Do biết hoàn cảnh HS, chúng tôi đã có cách tạo cho HS biết tự tin mà vươn lên trong học tập và cuộc sống. Tôi thường kể gương người thật, việc thật cho các em noi theo.
Trong từng tháng, chúng tôi vẫn theo dõi phụ huynh chủ động, không chủ động quan tâm đến con em là bao nhiêu? Phụ huynh chưa thiện chí hợp tác có mấy người.
+                   Quá trình làm chủ nhiệm lớp là quá trình phải có phương pháp làm việc chuẩn xác, xử lí tình huống sư phạm khéo léo của một GVCN nói riêng và GV nói chung :
ü                 Trong khi dạy học, chúng tôi thấy một nữ học sinh (ở bàn đầu ) ngồi xem chỉ tay cho bạn bên cạnh một cách say sưa, tuy bất bình nhưng chúng tôi không thể hiện. Vẫn giữ vẻ mặt vui vẻ và giọng nói thân thiện, chúng tôi gọi em trả lời câu hỏi bất ngờ (Không có trong kế hoạch bài dạy).
·                    Em hãy cho biết vân tay con người có đặc điểm gì?
·             HS trả lời (thái độ vui vẻ vì không bị thầy phê bình): Dạ thưa thầy vân tay con người chẳng ai giống ai cả ạ!
·             Như vậy, em cũng có thể hiểu mỗi một nhà văn đích thực, đầy tài năng, sáng tác của họ luôn tạo ra một loại vân chữ, điều đó chính là phong cách nhà văn.
·             HS vừa ngồi xuống lại nói chuyện, chúng tôi tiếp tục công việc của mình : Để hiểu phong cách của nhà văn Nam Cao, chúng ta hãy đọc sách giáo khoa mục 3, thầy mời em A (vẫn là em mới phát biểu) đọc, riêng các em khác đọc bằng mắt.
·             Trong khi em A đọc, thấy âm lượng quá nhỏ, tôi nói em A dừng đọc và hỏi 1 em B cuối lớp: em có nghe bạn A đọc không?B :  dạ không ạ!
·             Chúng tôi nói tiếp: Vậy em A hãy tăng Volume lên
·             Em A đã thực hiện tốt yêu cầu của chúng tôi và không mất trật tự nữa.
Không khí lớp học vui vẻ, hấp dẫn, thú vị. Không khí ấy khiến các em tập trung trong sự vui vẻ, không phải tập trung như không khí thánh đường -  không khí mà ai đó trong đồng nghiệp cho rằng lí tưởng.
ü                 Khi gặp phụ huynh HS cá biệt, chúng tôi vừa khen mặt tốt của em đó, vừa nêu mặt hạn chế, vừa tinh tế gợi phụ huynh cách quản lí con có tác dụng, mang tính sư phạm. Cách làm việc với tinh thần hợp tác, gần gũi, tự tin... khiến  phụ huynh hơi bất ngờ vì tưởng gặp GVCN sẽ nghe than vãn, trách móc. Tôi không tán thành việc đồng nghiệp khoe sự tận tình của họ: Gặp phụ huynh không dưới 20 lần. Hình như vô tình họ đã hành dân. HS cá biệt càng bất ngờ và hôm sau biết sửa sai vì như đã thấy GVCN đối xử bao dung, độ lượng. Phẩm chất này khiến HS quý thầy hơn, ảnh hưởng của thầy với HS cá biệt và bạn của em quả là không nhỏ.
ü                 Chúng tôi luôn sáng tạo các biểu mẫu để phục vụ cho công tác: Từ tờ giấy mời họp đến nắm thông tin giáo viên về tình hình lớp trước khi họp, các biểu mẫu báo cáo...
ü                 Phát huy dân chủ của HS trong các hoàn cảnh, cuối tháng hay cuối năm các em đều có quyền tham gia đánh giá hạnh kiểm của nhau và tất nhiên các em được đánh giá về hạnh kiểm bản thân trước.
­   Để tạo môi trường thân thiện góp phần giáo dục đạo đức HS, chúng tôi thường lồng ghép qua môn dạy. Với giáo viên Ngữ văn việc làm này có nhiều ưu thế.
+                   Khi HS không thuộc bài, đôi lúc chúng tôi có thể thay vì phàn nàn lại bằng thái độ khéo léo để chia sẻ với HS. Đây cũng là nguyên tắc định vị
Chẳng thể nào trọn vẹn niềm vui
Nếu còn một bài phải cho điểm thấp.
Ở đấy tấm lòng tôi thiếu hụt
Chấm điểm cho em, tôi nhận điểm chính mình!
Có vài em phía trái lớp, mặt buồn như tội lỗi của chính em; có đôi ba em phía phải, mắt hơi đỏ. Tôi cho đó là nỗi buồn tích cực.
+                        Dạy hoạt động ngoài giờ lên lớp, GVCN có thể đọc, ngâm thơ cho các em. Chủ đề tháng 11, HS và GV tranh thủ đọc ( ngâm ) một số bài thơ hay về đề tài Nhà giáo:
Trang sách mở như cánh chim bay cao, bay xa,
Mỗi dòng chữ là chặng đường đi ngắn, đi dài thăm thẳm.
 Dù bé bỏng li ti như bụi rơi phấn trắng,
Dù nhẹ nhàng bỗng trầm như lời thầy (cô) giảng mỗi ngày qua.
 Không có bụi phấn rơi, không có âm thanh tiếng nói,
chẳng thể có đường đi, chẳng thể có tầm bay.
 Ta thường giẫm lên trên bụi phấn li ti,
 và thường lãng quên âm thanh lời thầy cô một thuở.
Hãy nhớ! Có cái lớn lao nào không từ cái bé nhỏ sinh ra.
+            Học mà chơi, chơi mà học hơn bao giờ hết phải áp dụng ngay vào giờ giáo dục pháp luật. Chẳng hạn, chúng tôi nói vui với HS:
Trông cách đi xe rồi mới chọn bạn đời.
ü            Người hay phóng xe lạng lách, đánh võng :
Người này rất lãng mạn và cũng rất nhiều khi... lãng nhách! Anh ta có nhiều khi xem thường tính mạng của người khác và của chính mình. Vậy chắc gì anh ta quý trọng tính mạng của bạn?
ü          Người hay vượt đèn đỏ:
Người này háo thắng, nhưng nhanh nhẹn. Dù vậy, “Dục tốc bất đạt”, đi nhanh như thế e có ngày phải vào nhà thương, nhà đá, hoặc tệ hơn là nhà xác, bỏ bạn bơ vơ đấy!
ü          Người chạy  “nẹt pô”...
ü          Người hay trang trí xe lòe loẹt...
+            Chúng tôi quan niệm rằng: Phải luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu HS. Mỗi tuần nên có một hai câu chuyện về Nghệ thuật sống để kể cho các em nghe qua đó tác động đến tình cảm và hành động của các em theo chiều hướng tích cực.
­   Kiểm tra và xử lí vi phạm: Hai quá trình gắn kết
+            Kiểm tra vi phạm qua sổ tổ trưởng, sổ đầu bài, thông báo của Đoàn trường, qua các em HS cùng lớp, qua GV bộ môn (Nhiều năm qua, GV bộ môn đã cận kề cùng GVCN chúng tôi trong việc theo dõi chuyên cần HS và truy bài. GVCN phải có uy tín và tình cảm để các GV dạy bộ môn chia sẻ khó khăn).  GVCN ghi nhận khiếm khuyết của các em vào sổ riêng, và xem HS vi phạm lần đầu hay nhiều lần. Khuyết điểm mới hay lặp lại. Tự đoán định lí do vi phạm của các em trước khi gặp, xử lí HS.
+            Xử lí vi phạm: Hình thức gặp riêng. GV lắng nghe HS trình bày. Suy nghĩ, phân tích điều nào HS trung thực, điều nào không? Chúng tôi gặp HS và phát hiện em nói dối : Bà nội chết để nghỉ học đi chơi ba ngày.
Xử lí vi phạm theo Quyết định 1118/QĐ của Bộ Giáo dục ký ngày 1 – 12 – 1987. Quy định này có sự kết hợp giữa tình và lí HS vi phạm để HS có cơ hội sửa chữa. Tuyệt đối tránh tùy tiện làm sai rồi cho là làm sáng tạo.
+            GVCN nên theo dõi giúp đỡ sau khi HS nhận mức kỉ luật nhất định. Đối xử với HS vi phạm bình đẳng với các HS khác trong việc dạy học, kiểm tra, tránh để HS suy nghĩ GV định kiến. Đó là hình thức giáo dục trong tập thể và bằng tập thể. Nhờ HS là bạn thân của HS cá biệt để góp phần cảm hóa thêm. Có thể khen thưởng, động viên nếu HS vi phạm có tiến bộ.
b)                 Sự phối hợp giữa GVCN với Đoàn trường
Đoàn trường có nhiều ưu thế đối với việc giúp GVCN. Đoàn tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng (cụ thể hơn là giáo dục đạo đức HS). Nhận thức đúng dẫn đến hành động đúng
­     Giáo dục “nền nếp – kỉ cương – tình thương, trách nhiệm”, đặc biệt là  giáo dục cách nhận thức, cách sống cho HS qua các ngày lễ lớn, các phong trào  học tập, văn nghệ, thể thao, về nguồn. Đoàn kết hợp với các cơ quan chức năng hỗ trợ khó khăn cho đoàn viên.
­   Đoàn trường có khả năng tập hợp đoàn kết đoàn viên, thanh niên vào các hoạt động bổ ích qua đó giáo dục tư tưởn: Giáo dục kĩ năng sống qua từng giao tiếp nhỏ...
­   Đoàn kết nạp thanh niên vào tổ chức Đoàn  để góp phần xây dựng Đoàn và Đảng.
­   Những năm gần đây, do có sự cải tiến về chế độ làm việc, Đoàn có thêm thời gian tham gia sâu vào công tác thi đua, giáo dục HS cá biệt và đã hoàn thành tốt công việc được giao. GV mạnh dạn đánh giá đúng về lớp, đó là điều có lợi nhất cho lớp chủ nhiệm.
GVCN (kể cả GV hết tuổi Đoàn) phối hợp với Đoàn
­   Thực hiện tốt công tác thi đua; Phân định ý nghĩa khái niệm thi đua với bệnh thành tích...
­   Giới thiệu giúp Đoàn những em HS có khả năng ứng xử, khả năng văn nghệ... để Đoàn xây dựng hạt nhân các phong trào.
­   Giới thiệu kết nạp Đoàn. GVCN không thờ ơ với việc phát triển Đoàn cho HS lớp mình. GV động viên HS vào Đoàn nhưng phải bằng chính kết quả phấn đấu của các em. Trước khi gởi danh sách kết nạp, chúng tôi, GVCN, thường thông qua danh sách chi đoàn lớp giới thiệu đoàn viên mới cho Đoàn cấp trên kết nạp.
­   GVCN tham gia dạy lớp cảm tình Đoàn, báo cáo chuyên đề, phản ánh tấm gương người tốt, việc tốt.
­   HS đang tuổi mới lớn, ham sự sôi nổi, thích khẳng định mình... việc tổ chức đá bóng, văn nghệ, cắm hoa, thi đua có nhiều hoa điểm 10, làm thiệp 20 - 11, về nguồn v.v... thu hút niềm phấn chấn rõ rệt của các em. GVCN cần gần gũi HS để chia sẻ với các em những giờ phút ấy. Đây là những giờ phút các em thể hiện sự hồn nhiên, trong sáng và hướng thiện, thích bộc bạch với bạn bè cũng như GVCN. Khi HS gần cái Thiện, cái Đẹpdẹp cái xấu  sẽ xa rời bạo lực và các tệ nạn xã hội khác.
­   Giúp Đoàn duyệt văn nghệ; Tổ chức đố vui để học; Tuyên truyền đề tài tình bạn, tình yêu; sức khỏe sinh sản vị thành niên; phòng chống các tệ nạn xã hội, quyên góp quỹ từ thiện V.v..; GVCN phải nắm được các hoạt động, các ưu, khuyết điểm ( nếu có ) của tổ chức Đoàn để vừa nhờ Đoàn giáo dục, khen thưởng HS, vừa chung sức với Đoàn khi tổ chức này mời tham gia hoạt động. Gần BCH Đoàn, GVCN chúng tôi càng hiểu HS lớp mình hơn : Từ việc hình thành nhân cách cho đến việc nhắc nhở trang phục... đều có Đoàn kề cận. GVCN càng tranh thủ sự giúp đỡ của Đoàn trường càng làm việc có hiệu quả. Thực tế GVCN không thể bám lớp liên tục nên cần báo cho Đoàn hỗ trợ giúp đỡ HS bị vi phạm nội quy.
­   GVCV cần nhận rõ ưu thế đăc biệt của Đoàn thanh nhiên đối với HS mà cá nhân mình không thể thay thế dù có phấn đấu hết mình. Tổ chức Đoàn thanh niên là tổ chức của tuổi trẻ. Đây là môi trường gần gũi, bằng nhiều phương pháp đã giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan cho HS theo từng nhiệm vụ năm học mà Đoàn cấp trên và chi bộ giao phó. Những năm gần đây, Đoàn trường giáo dục kĩ năng sống cho HS, theo dõi thi đua kịp thời, sâu sát, GVCN càng phối hợp giáo dục HS thuận lợi hơn nhiều so với các năm.
­   Hàng năm, sau khi HS nghỉ hè, GVCN gặp Ban chấp hành Đoàn trường để lấy kết quả sinh hoạt hè của HS để theo dõi, động viên... các em. Chỉ như vậy các em mới gắn bó với phong trào Đoàn dịp hè.
c)                 Sự phối hợp giữa GVCN với Hội cha mẹ HS (HCMHS
Công tác chủ nhiệm phải gắn với Hội Cha mẹ HS, bởi vì Hội Cha mẹ vừa là chủ thể giáo dục con em, vừa chịu một phần trách nhiệm về giáo dục (Con hư tại mẹ tại cha, cháu hư tại bà lại cả tại ông).
–      Hội gồm những bậc Phụ huynh có nhiều tâm huyết đối với thầy và trò. Hội giáo dục HS bằng kinh lịch cuộc sống, bằng tư cách cha ông. Với nhà trường, Hội luôn thấu hiểu và chia sẻ kịp thời, sâu sắc những khó khăn lớn và động viên kịp thời thầy và trò trong giảng dạy và học tập.
–      Là GVCN chúng ta phải nhận thức được: Ban đại diện Cha, mẹ HS có trách nhiệm tổ chức thu thập ý kiến đóng góp của các cha, mẹ HS để cùng nhà trường giải quyết các vấn đề sau đây :
+                        Nội dung công việc có liên quan đến sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình để giải quyết những việc có liên quan đến HS.
+                        Vận động các bậc cha mẹ học sinh thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ mà HS được hưởng hoặc nghĩa vụ phải đóng góp theo quy định.
+                        Vận động các bậc cha mẹ HS thực hiện các hoạt động xã hội hoá giáo dục ở địa phương (Phải tham gia vào quá trình giáo dục con em, nhất là đối tượng HS chậm tiến, không thể hiểu phiến diện, Hội ở mặt đóng góp xây dựng cơ sở vật chất.)
+                       Cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh có thể phản ánh, trao đổi, góp ý kiến trực tiếp với nhà trường, với giáo viên hoặc thông qua Ban đại diện cha, mẹ học sinh về những vấn đề liên quan đến công tác giáo dục trong nhà trường.
–      Trước tiên, chúng tôi phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ HS của lớp. Họ động viên chúng tôi đừng ngại khi phải thu tăng tiền quỹ lớp trong một số tháng nhất định. Họ tham gia động viên, trao đổi với phụ huynh HS có con lười học và có hiệu quả. GVCN chủ động tư vấn giáo dục cho một số Phụ huynh dạy con ít hiệu quả, để họ tránh khoán trắng việc giáo dục con mình cho nhà trường. Giúp một số Phụ huynh hiểu rằng tấm gương đạo đức của cha mẹ có sự ảnh hưởng rất lớn với con mình. Nuôi con là truyền cả một niềm tin chứ không đơn giản là cái ăn, cái mặc.
–      Thông qua lãnh đạo nhà trường, GVCN đề xuất nhu cầu học phụ đạo cho HS, chỉ có sự giúp đỡ về chủ trương của Hội, huyện mới đồng thuận cho trường dạy học phụ đạo HS yếu. Khi phòng học thiếu ánh sáng, Hội cũng chia sẻ việc sửa chữa cơ sở vật chất. Trong Hội đồng kỉ luật, chúng tôi cũng mời Hội tham gia ý kiến để sự việc được giải quyết thỏa đáng hơn.
–      Động viên Cha mẹ HS thường xuyên giữ liên lạc qua điện thoại với GVCN và đi họp đầy đủ.
–      Biết biến mình thành cầu nối GVCN sẽ được HCMHS chia sẻ, động viên giải quyết hỗ trợ HS nghèo. Ở nông thôn, phụ huynh lớn tuổi có thế mạnh về thời gian và họ quen biết rất nhiều phụ huynh.
d)          Sự phối hợp giữa GVCN với chính quyền địa phương
GVCN là người trực tiếp đại diện cho nhà trường giáo dục đạo đức HS.
–      GVCN cùng Đoàn trường đăng kí 1 số công trình hữu ích tại địa phương: Phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc phần mộ vị anh hùng Nguyễn Đức Ứng, Thăm viếng nghĩa trang huện Long Thành đóng trên địa bàn xã Long Phước. Ngoài ra, HS còn tham gia công tác tuyên truyền thông qua Văn nghệ, bóng chuyền, bóng đá ...
–      Giúp HS gắn bó thân thiện với địa phương cấp tỉnh : Trong số rất ít HS trở thành cộng tác viên, hội viên Hội văn nghệ Đồng Nai, chúng tôi đã góp phần đào tạo được 4 HS thành cây bút trẻ (nhiều nhất các huyện trong tỉnh Đồng Nai), có triển vọng lâu dài. Thiết nghĩ việc đầu tư vào Câu lạc bộ sáng tác văn học của chúng tôi đã có thành quả khá mĩ mãn, đáng tự hào. Cố nhiên HS sẽ rất biết ơn nhà trường và trường chúng tôi đã trở thành trường học thân thiện từ rất lâu trong tình cảm của HS.
–      Tham gia dạy bổ túc cho Phụ huynh HS làm ở công ty cao su Thái Hiệp Thành cũng có công sức của các GVCN khối 12. Phụ huynh càng thân thiện với GV và nhà trường.
–      Tham gia văn nghệ tại các cơ quan, ban ngành của Huyện nhân các ngày lễ lớn.
Ngược lại địa phương sẽ quan tâm nhiều mặt đến HS lớp
–      Với HS cá biệt, công an địa phương sẽ điều tra, theo dõi giúp hiện tượng HS bỏ học để đi chơi ngoài phạm vi trường; hiện tượng vi phạm an toàn giao thông, hiện tượng bạo hành dưới nhiều hình thức...
–      Bên cạnh đó những HS nghèo, hiếu học lại được quỹ khuyến học của địa phương giúp đỡ.
–      Địa phương sẽ yêu cầu ngừng kinh doanh các quán Internet sát trường để đảm bảo môi trường sư phạm trong và ngoài phạm vi trường học.
e)           Sự phối hợp giữa GVCN với đoàn thể xã hội
GVCN cùng Đoàn trường phối hợp với Đoàn tên lửa D93 (Đơn vị kết nghĩa với Đoàn trường), Đoàn trường Cao đẳng LiLaMa2, xã Đoàn Long Phước. Phong trào Văn nghệ, thể thao được duy trì tạo sân chơi bổ ích cho HS và thắt chặt quan hệ của các cơ quan, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.
III - KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1.           Kết quả
–      Trên 10 năm chuyên chủ nhiệm lớp yếu chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ba năm gần đây lớp chúng tôi được nhà trường và huyện Đoàn Long Thành khen tặng thành tích hoạt động phong trào xuất sắc. Bản thân tôi 3 năm liền đạt kết quả chiến sĩ thi đua do sở Sở GD – ĐT cấp chứng nhận.
Năm học Lớp Hạnh kiểm
Tốt Khá Trung bình Yếu
2007 - 2008 12A7 54,5% 26% 17.% 2.5%
2008 - 2009 12A3 64% 19.5% 16,5% 0%
2009 - 2010 12A3 71% 13,5% 15.5% 0%
–      Việc chống bạo hành được chúng tôi chủ động từ trước, không để xảy ra đánh nhau hay đe dọa nhau. Nhờ cuộc vận động Dân chủ - Kỉ cương - Tình thương - Trách nhiệm và nay là sự định hướng xây dựng Trường học thân thiện, tiếp tục đổi mới công tác quản lí... trong nhà trường.
–      Nhiều đồng nghiệp gặp khó khăn trong công tác chủ nhiệm đều đến tham khảo kinh nghiệm của chúng tôi đó cũng chính là sự thành công trong công tác chủ nhiệm.
2.           Bài học kinh nghiệm
–      Tạo môi trường thân thiện là cách tránh báo hành học đường từ xa.
–       Nếu có sự cộng tác chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường và xã hội thì HS hư xấu nào cũng có thể giáo dục, rèn luyện trở thành ngoan tốt. Phải kiên trì giáo dục.
–      Học sinh thường hay quậy phá vì mất căn bản học ở cấp dưới, thầy giảng bài không hiểu, làm bài không được nên chán nản. Phải bổi dưỡng học lực thì tiến bộ cả về đạo đức, vì học tốt thì kỉ luật tốt. Không tách rời tiến bộ về học lực và đạo đức.
–      Chúng ta hãy tìm cách phát huy cái tốt của HS vì cái tốt lan rộng sẽ tiêu diệt cái xấu, làm cho các em vui vẻ, phấn khởi hơn là mặc cảm về lỗi lầm và thất vọng về bản thân.
–      Đối với HS nói chung, HS hiếu động nói riêng, cần có sân chơi phù hợp, hướng các em đến với bóng đá, học Ngoại ngữ, Tin học nhiều hơn ...
–      GVCN cần tránh:
+            Không tìm ra “Thủ phạm” thường trừng phạt tập thể
+            Thiếu sự lãnh đạo đúng thái độ tập thể đối với HS phạm lỗi
+            Thiếu yêu cầu thống nhất và thái độ nhất quán
+            Xử phạt vộ vã thiếu khách quan
+            Yêu cầu HS đôi khi phi lí và đòi hỏi thực hiện yêu cầu quá nhiều cùng một lúc
+            Không giữ được thái độ bao dung, độ lượng hay nghiêm khắc khi cần
+            Thường cố nhấn mạnh khuyết điểm, sự trừng phạt
+            Phát ra những lời thương hại đối với HS phạm lỗi
+            Quở trách không ngừng kẻ phạm lỗi
+            Tính khí không phù hợp với nghề nghiệp thường đùng đùng nổi giận khi không chịu đựng được
+            Không có niềm tin về sự cải thiện và phát triển của HS. Không nên có định kiến về HS (Ngu, đần, lười biếng.. ).
3.           Kết luận
–      Ngành giáo dục và đào tạo duy trì thực hiện cuộc vận động lớn trong ngành với 5 nội dung : Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; Nêu cao đạo đức nhà giáo; phong trào trường học thân thiện và học sinh tích cực và nói không với bạo lực học đường.
–      Cần có sự chỉ đạo kiên quyết liên tục của các cấp lãnh đạo quản lí giáo dục về công tác chủ nhiệm. Cần có sự hướng dẫn đánh già đạo đức HS theo yêu cầu cụ thể, có định tính, định lượng.
–      Tuyển chọn sinh viên sư phạm về nhân cách và trí tuệ với yêu cầu cao và đào tạo thiết thực hơn về công tác chủ nhiệm lớp, tránh sinh viên sư phạm mới ra trường đả muốn chủ nhiệm lớp.
–      Nên chia tổ, nhóm chủ nhiệm và chức năng hoạt động của các tổ nhóm này có tầm quan trong như tổ chuyên môn (Nếu không muốn nói là hơn).
–      Nâng cao chất lượng học tập sẽ góp phần giảm nhẹ các vụ việc bạo lực học đường.
–      Luôn nêu gương Người tốt việc tốt.
–      Thi viết về tình bạn, đọc và phát thưởng dưới cờ; tổ chức thi HS thanh lịch.
 

Chuyên đề 7: PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC.

Thực hiện:  Gv Hoàng Diệu Thúy
Đơn vị:  THPT Long Khánh
Trong suốt những năm vừa qua, sự nghiệp giáo dục luôn luôn là lĩnh vực nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Bởi lẽ, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo chính là phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho lớp lớp các thế hệ con người Việt Nam. Trong toàn bộ quá trình giáo dục, giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là người thay mặt cho nhà trường trực tiếp quản lý học sinh, theo dõi sát sao mỗi bước thay đổi dù là nhỏ nhất của học sinh để kịp thời có những giải pháp giáo dục hợp lý. Chính vì vậy, GVCN là người chịu trách nhiệm cao nhất về kết quả quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường .
Trong nhà trường phổ thông, công tác GVCN được coi là công tác kiêm nhiệm, với tâm lý đó, không mấy trường tổ chức Hội nghị GVCN hàng năm, không có các lớp tập huấn kỹ năng cho GVCN, không có những đề tài khoa học về công tác GVCN, không có những đãi ngộ hợp lý với giáo viên làm công tác chủ nhiệm trong khi công việc này rất vất vả. Do đó, giáo viên chưa toàn tâm toàn ý với công tác chủ nhiệm , giáo viên làm công tác chủ nhiệm bằng kinh nghiệm cá nhân trên cơ sở lý luận chủ yếu được trang bị từ trường sư phạm.
Việc tổ chức Hội nghị Giáo viên chủ nhiệm để cùng trao đổi, chia sẻ những phương pháp chủ nhiệm hiệu quả là rất cần thiết. Thông qua  Hội nghị này, giáo viên trẻ có thể học hỏi kinh nghiệm từ những giáo viên lâu năm trong công tác quản lý lớp, giáo viên lớn tuổi có thể học hỏi ở giáo viên trẻ những xu hướng giáo dục mới, lãnh đạo và các cấp quản lý có thể hiểu hết những khó khăn phức tạp trong công tác chủ nhiệm từ đó có những chính sách hợp lý và kịp thời.
Bản thân tôi, kinh nghiệm làm giáo viên chủ nhiệm chưa nhiều, nên đến với Hội nghị này, tôi chỉ xin đóng góp một vài kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã có được trong quãng thời gian làm công tác giáo viên chủ nhiệm của mình, đó là một vài ý kiến về phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực .
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Giáo viên chủ nhiệm lớp là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi quyết định quản lý của Hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp, là người vạch kế họach, tổ chức cho lớp thực hiện các nhiệm vụ học tập trong nhà trường , là người quản lý và đánh giá quá trình rèn luyện của tất cả học sinh trong lớp.Với tất cả những vấn đề trên, đòi hỏi GVCN phải có những giải pháp hợp lý để có thể quản lý tốt lớp học do mình chủ nhiệm . Mỗi lớp học ở bậc Trung học phổ thông thường bao gồm trên dưới 40 học sinh với nhiều tính cách, hoàn cảnh gia đình và trình độ nhận thức khác nhau. Đặc biệt, ở độ tuổi này, các em có những trạng thái tâm sinh lý khá phức tạp, có sự độc lập nhất định trong tư duy, dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, lại luôn muốn thể hiện cái tôi của mình. Trong thực tế, chúng ta thường bắt gặp những hiện tượng như: khuyên bảo thì các em không nghe, la mắng thì các em lỳ lợm, xử lý kỷ luật thì tỏ thái độ bất cần, nhẹ nhàng thoải mái thì các em coi thường ,….Vậy chúng ta phải giáo dục các em như thế nào cho hợp lý?
II/ NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP:
1.     NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC
GVCN phải là người hiểu rõ mọi học sinh trong lớp, hiểu rõ đặc điểm tình hình của lớp và những vấn đề phát sinh trong quá trình giáo dục học sinh, trên cơ sở đó có thể đề ra những phương án quản lý lớp phù hợp và hiệu quả nhất .
Muốn quản lý tốt lớp học, GVCN cần phải nhận được sự đồng thuận từ phía tập thể học sinh trong lớp. Tuy nhiên, đối với học sinh bậc THPT, muốn các em chấp nhận và đồng thuận với các quyết định của GVCN, không thể bằng cách áp đặt mệnh lệnh với các em, mà phải làm sao để các em tự giác, tự nguyện. Việc này đòi hỏi GVCN phải được học sinh của mình yêu quý, tin tưởng và tín nhiệm. Lòng tin ấy phải không ngừng được củng cố thông qua các họat động của thầy và trò trong suốt quá trình học tập .Giáo viên chủ nhiệm phải nắm bắt tốt tâm lý học sinh, đặt mình vào vị trí của các em để hiểu các em, từ đó có phương pháp giáo dục phù hợp, kích thích các em thể hiện cái tôi theo hướng tích cực để quá trình giáo dục diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao.
Trong suốt quá trình chủ nhiệm, GVCN phải làm cho học sinh của mình thấy rằng các em đã lớn, đã có thể tự quyết định những vấn đề của bản thân dưới sự tư vấn của thầy cô, cha mẹ, và một khi đã tự quyết định thì các em phải biết tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. GVCN không quan tâm thái quá cũng không được thờ ơ lơ là, không làm thay học sinh, không áp đặt học sinh, nên khuyến khích các em tự mình giải quyết các vấn đề, khi nào thật sự khó khăn mới nhờ giáo viên tư vấn .
Khi học sinh vi phạm, cần chỉ cho các em thấy các em sai ở đâu, và các em sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào. Bên cạnh đó, GVCN cũng nên tạo cơ hội cho học sinh của mình được bày tỏ quan điểm cá nhân, lắng nghe và chia sẻ cùng các em, nếu các em cần sự giúp đỡ thì GVCN phải giúp hết mình .
Cuối cùng, không thể giáo dục hiệu quả nếu bản thân GVCN không phải là một tấm gương cho học sinh của mình .
2.     CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
     Tạo quan hệ thân thiện, gần gũi
Trước tiên, hãy cho các em một cảm giác gần gũi, thân thiện và tin tưởng ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên . Ngay từ buổi đầu tiên khi tiếp xúc với lớp, GVCN hãy tỏ thái độ thân thiện, vui vẻ, hòa đồng, như vậy sẽ khiến các em có cảm giác thoải mái, dễ chịu . Tiếp sau đó, hãy tận dụng bản sơ yếu lý lịch như nhịp cầu nối để kéo gần khoảng cách thầy trò. Thông thường, lần đầu tiên gặp lớp, GVCN thường yêu cầu học sinh viết 1 bản sơ yếu lý lịch. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung thường có của 1 bản sơ yếu lý lịch, GVCN nên thêm vào những nội dung như: sở thích, ước mơ, nghề nghiệp trong tương lai, đề xuất, nguyện vọng trong năm học… Với những nội dung này, GVCN có thể nắm bắt được rất nhiều điều từ phía học sinh , trên cơ sở đó có giải pháp chủ nhiệm phù hợp. Đồng thời, đối với học sinh, các em sẽ cảm thấy rằng GVCN rất quan tâm đến tâm tư và nguyện vọng của các em, đó chính là điều mà các em đang cần. Trong quá trình chủ nhiệm, thỉnh thoảng, GVCN nên gặp gỡ, nói chuyện, hỏi thăm việc học tập, việc gia đình của một vài học sinh trong lớp. Ngoài ra, những tấm thiệp vào dịp Tết, Giáng Sinh, sinh nhật sẽ là món quà rất ý nghĩa giúp cho quan hệ thầy trò thêm gần gũi.
Nếu học sinh cảm nhận được sự gần gũi, các em sẽ rất dễ dàng tâm sự , chia sẻ với GVCN khi cần. GVCN có thể động viên học sinh viết thư tay cho mình để tâm sự nếu các em có nhu cầu. Biện pháp này vừa để GVCN kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh, vừa giáo dục các em kỹ năng giao tiếp bằng thư tay.
Khi đã có được những thông tin từ phía học sinh, GVCN nên giúp đỡ học sinh giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong khả năng có thể của mình .
      Luôn luôn lắng nghe học sinh
Người giáo viên nói chung nên biết lắng nghe ý kiến của học sinh. Người giáo viên chủ nhiệm lại càng cần phải biết lắng nghe học sinh của mình. Hãy làm cho các em thấy rằng , các em có quyền phát biểu ý kiến với một thái độ đúng mực, và ý kiến của các em đáng được tôn trọng. GVCN có thể nghe các em nói trong giờ sinh họat chủ nhiệm, trong tiết HĐGDNGLL, trong những giờ giải lao, trong những lúc thầy trò nhỏ to tâm sự, hoặc trong những lá thư mà các em gửi cho GVCN … Sau khi đã lắng nghe, GVCN cần có những phản hồi hợp lý trong điều kiện cho phép .
     Cùng thỏa thuận, cùng thực hiện
Trong mọi họat động của lớp, không nên áp đặt các em phải thực hiện theo yêu cầu của GVCN, hãy cùng các em thỏa thuận phương án làm việc hiệu quả nhất, cùng các em đề ra những nguyên tắc làm việc chung để cả GVCN và học sinh đều cảm thấy thoải mái .
Cho phép học sinh được tự quyết định một số vấn đề của lớp, đi đôi với việc nếu học sinh nào vi phạm thì phải chịu trách nhiệm, phải chấp nhận bị xử lý kỷ luật theo quy định .
Ví dụ: trong các họat động như thi đua, văn nghệ, tham quan … GVCN nên đưa ra lớp cùng trao đổi và để các em tự lựa chọn các phương án phù hợp nhất, sau đó cùng các em thực hiện, cùng các em rút kinh nghiệm .
     Khen thưởng đúng lúc, xử lý kịp thời
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập, sẽ có những học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, nhưng cũng không tránh khỏi có những học sinh vi phạm nội quy. GVCN cần phát hiện kịp thời để khen thưởng và xử lý kỷ luật phân minh. Có thể khen thưởng hoặc xử lý kỷ luật theo tổ để nâng cao ý thức tập thể cho học sinh. Không nên xử lý kỷ luật quá nặng , bởi lẽ , các em đang trong giai đọan rèn luyện và tu dưỡng , nên cho các em cơ hội để sửa chữa lỗi lầm, chỉ nên xử lý kỷ luật khi học sinh tái phạm nhiều lần theo Điều lệ trường phổ thông và theo quy chế 40/2006/QĐ-BGDĐT.
Nên có những hình thức khen thưởng tập thể để khuyến khích học sinh. Chẳng hạn như cho lớp đi tham quan dã ngoại khi các em có kết quả học tập tốt .
     Xây dựng đội ngũ những nhân tố tích cực trong tập thể
Những nhân tố tích cực ở đây chính là những học sinh có thể hỗ trợ GVCN quản lý lớp. Thông thường đó sẽ là đội ngũ cán bộ lớp, BCH Chi đoàn, ngoài ra cũng có thể là một vài học sinh khác có uy tín trong tập thể. Đây là nhân tố quan trọng quyết định rất lớn đến kết quả công tác chủ nhiệm, nếu xây dựng được những nhân tố tích cực tốt, GVCN sẽ rất thuận lợi trong việc quản lý lớp học của mình, dễ dàng và nhanh chóng nắm bắt mọi vấn đề của lớp, tính tự giác của học sinh sẽ được nâng cao .
     Tiết sinh hoạt lớp là một tiết học làm người
Không nên lạm dụng tiết sinh họat lớp để khiển trách, la rầy học sinh. Ngoài việc thông báo những công việc của nhà trường, GVCN nên tận dụng tiết sinh họat chủ nhiệm để giáo dục học sinh về đạo đức, lối sống. Hãy kể cho các em nghe những câu chuyện về cách học làm người, hãy chỉ cho các em cách bày tỏ tâm tư nguyện vọng với cha mẹ , hãy định hướng về nghề nghiệp cho các em, hãy tư vấn về tâm sinh lý lứa tuổi, về tình bạn, tình yêu cho các em, hoặc đơn giản chỉ là cùng tham gia tiết HĐGDNDLL với các em một cách hào hứng và vui vẻ. Còn với những trường hợp học sinh vi phạm, nếu đã có thỏa thuận với lớp ngay từ đầu thì cứ theo thỏa thuận đó mà tiến hành xử lý vi phạm, nếu không thật cần thiết thì không đưa ra khiển trách trước lớp mà chỉ nhắc nhở riêng.
     Thông qua các hoạt động tập thể để giáo dục học sinh về những giá trị đích thực của cuộc sống
Trong môi trường xã hội hiện nay, có nhiều vấn đề tiêu cực của xã hội tác động khiến cho nhiều học sinh có những cách nhìn sai lệch và tiêu cực về cuộc sống . GVCN sẽ là người giúp cho các em nhìn nhận cuộc sống một cách bao dung và nhân ái hơn . Điều này sẽ giúp cho học sinh tránh được những phản ứng tiêu cực trong khi thực hiện nội quy của nhà trường,  GVCN dễ dàng đưa học sinh vào nề nếp một cách tự nhiên mà không cần phải dùng áp lực với học sinh .
Ví dụ: phân tích cho các em thấy rằng, giáo viên cũng là một con người bình thường, cũng không tránh khỏi đôi khi mắc phải sai sót trong công việc hàng ngày , nên nếu như có chuyện đó xảy ra thì cũng đừng vì vậy mà có cái nhìn không tốt đối với giáo viên.
Hoặc vào những dịp lế như 20/11, 8/3…, nên động viên các em dành chút thời gian cung nhau làm quà tặng thầy cô, những món quà do chính tay các em làm tuy giá trị kinh tế không nhiều nhưng giá trị tinh thần thì vô cùng to lớn, việc làm này sẽ giúp học sinh có cái nhìn tích cực về cuộc sống, giáo dục các em về những giá trị đích thực của cuộc sống .
     Tự mình phải là tấm gương cho học sinh noi theo
GVCN không thể giáo dục học sinh nếu bản thân GV chưa tốt. Mỗi ngày, GVCN phải làm gương cho học sinh của mình về mọi hoạt động, từ lời nói, tác phong, cách làm việc, cách giải quyết các vấn đề …Hãy cùng các em tham gia các hoạt động của trường, của lớp với một thái độ thực sự nghiêm túc, điều này có giá trị giáo dục cao hơn rất nhiều lần việc giáo dục bằng lời nói .
3.     KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Tuy thời gian chủ nhiệm chưa lâu, nhưng với những gì đã làm, lớp chủ nhiệm của tôi đã có những thay đổi tích cực:
-        Từ một tập thể có kết quả thi đua không cao, các em đã vươn lên đứng nhất toàn khối
-        Kết quả học tập nâng cao, số học sinh khá giỏi tăng hơn hẳn, không còn học sinh yếu kém
-        Tập thể lớp rất tự giác trong mọi hoạt động kể cả khi GVCN không có mặt
-        Đội ngũ cán bộ lớp, BCH Chi đoàn làm việc hiệu quả, phát huy tinh thần đoàn kết tập thể, hỗ trợ nhau trong mọi hoạt động
-        Sang năm lớp 12, áp lực học tập nặng nề hơn, nhưng mọi hoạt động của lớp vẫn ổn định .
-        Điều mà tôi cảm thấy được nhiều nhất chính là sự đoàn kết của cả tập thể lớp, sự gắn kết giữa GVCN và học sinh. Học sinh của tôi rất tin tưởng GVCN của mình, các em có thể tìm đến tôi bất cứ khi nào các em gặp vấn đề , từ chuyện học tập đến chuyện quan hệ bạn bè, đôi khi cả những khúc mắc trong gia đình các em cũng tìm gặp tôi để xin ý kiến. Chính sự tin tưởng này đã giúp tôi làm công tác chủ nhiệm một cách nhẹ nhàng, ít vất vả nhưng vẫn có được những kết quả khả quan.
III/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Bản thân tôi đã rút ra được cho mình một vài kinh nghiệm trong công tác quản lý lớp chủ nhiệm:
-        GVCN phải giáo dục học sinh của mình bằng tình yêu thương chân thành dành cho các em
-        Đối với học sinh bậc THPT, cách quản lý tốt nhất là để các em tự quản lý mình trên cơ sở sự theo dõi, giám sát của giáo viên
IV/ KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT
-        GVCN sẽ không thể làm tốt công tác chủ nhiệm nếu thiếu sự hỗ trợ từ phía các cấp quản lý trong nhà trường. Do đó, BGH cần quan tâm hơn nữa đến công tác chủ nhiệm và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để GVCN hoàn thành nhiệm vụ của mình
-        Cần tách hoạt động chủ nhiệm thành một công tác chuyên biệt trong nhà trường với những cơ chế quản lý riêng phù hợp với đặc thù của công tác này. Trên cơ sở  đó có những đãi ngộ hợp lý, xứng đáng với công sức mà GVCN bỏ ra để thực hiện công tác chủ nhiệm
-        Cần có những Hội thảo chuyên đề, những lớp tập huấn kỹ năng riêng cho công tác chủ nhiệm để nâng cao chất lượng công tác này trong nhà trường.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ trong công tác chủ nhiệm của cá nhân tôi , rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía quý thầy cô giáo để bản báo cáo được hoàn chỉnh hơn , đồng thời cũng để bản thân tôi có thêm những kinh nghiệm mới giúp tôi làm tốt hơn công tác chủ nhiệm của mình .
 

Chuyên đề 8: SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG NHÀ TRƯỜNG; HỘI CHA MẸ HỌC SINH, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH

Thực hiện:  GV Võ Thị Muộn
Đơn vị:  THPT Thanh Bình
I./ LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo trở thành sự nghiệp chung của toàn xã hội và thầy cô giáo được trao cho sứ mệnh là “Trồng người”. Bởi nhiệm vụ và mục tiêu của nhà trường là đào tạo thế hệ trẻ trở thành lớp người có nhân cách, có tri thức.
Bác Hồ từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Mà hiện nay, vấn đề đạo đức của học sinh có chiều hướng tiêu cực – không ít học sinh bậc THPT đã làm nhòe mờ đạo đức truyền thống của dân tộc, điều này khiến những người trực tiếp tham gia công tác giáo dục không thể không nghĩ đến trách nhiệm của mình. Từ Bộ trưởng Bộ giáo dục đến các Sở giáo dục và Hiệu trưởng của tất cả các trường trên toàn quốc đều chủ tâm xác định nhiệm vụ trọng tâm và xây dựng chủ đề năm học nhằm tạo nên sự đồng bộ và tác động tích cực đến việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó quan tâm sâu sắc đến công tác giáo viên chủ nhiệm lớp. Cùng góp vào tiếng nói chung trong công tác giáo dục, tôi xin được trình bày chuyên đề: “Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với tổ chức đoàn trong nhà trường; hội cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh” – một cách làm truyền thống mà vẫn hiệu quả.
II./ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ:
1.          Cơ sở lý luận:
- Trong giáo dục nói chung và trong nhà trường THPT nói riêng giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng: có trách nhiệm quản lí, tổ chức lớp, thúc đẩy học sinh thực hiện mọi hoạt động chung của nhà trường, tìm hiểu, nắm tình hình học sinh, giáo dục học sinh kỹ năng sống, cố vấn học tập và dự báo xu hướng tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện, khả năng học sinh. Vì vậy, công tác chủ nhiệm có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh.
- Giáo dục bậc THPT có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có nhiều thử thách:
+ Lứa tuổi THPT khá năng động, sôi nổi, ham hiểu biết, muốn khẳng định mình, được sống trong xã hội ngày càng văn minh tiến bộ, luôn đề cao sự học, độ tuổi này học sinh bắt đầu hình thành chiều sâu trong suy nghĩ.
+ Học sinh THPT vẫn còn nông nổi, bồng bột nên dễ bị tác động, lôi kéo bởi điều xấu dẫn đến sa ngã, hư hỏng. Mặt khác lứa tuổi vị thành niên có những thay đổi tất yếu về tâm sinh lí mà bản thân thiếu tầm kiểm soát.
Do đó, giáo dục toàn diện một con người không phải chuyện giản đơn. Nó đòi hỏi người giáo viên phải hội đủ cả tài, tâm, lòng nhiệt huyết và cần thiết có sự khéo léo trong việc phối hợp với các tổ chức có liên quan.
Song, trên thực tế chúng ta lại chưa quan tâm đúng mức vai  trò của giáo viên chủ nhiệm. Trong buổi hội thảo giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh PGS – TS Bùi Văn Quân – phó cục trưởng cục nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phát biểu: “Chúng ta hay đề cao việc dạy chữ, coi nhiệm vụ hàng đầu ở trường học là giáo dục tri thức mà chưa chú trọng lắm về việc giáo dục phẩm chất, nhân cách cho học sinh cho nên học sinh có hành vi lệch chuẩn ngày càng tăng.” – Báo văn hoá.
Giáo dục học sinh là vấn đề căn bản có ý nghĩa quyết định chất lượng dạy và học – “đó là sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình, giữa giáo viên và học sinh mà trong đó giáo viên chủ nhiệm là chiếc cầu nối là mắc xích của sự kết hợp” – Cô Đàm Thị Kim Hoa GV trường Lương Văn Chánh.
2.          Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của chuyên đề:
Giáo dục một con người đặc biệt giáo dục đạo đức học sinh là một quá trình không có điểm cuối cùng. Đó là công việc kéo dài cả đời người. Vì thế giáo viên chủ nhiệm không thể nóng vội, chủ quan, cảm tính. Nói như cô giáo Lê Thị Thanh Vân (Trường THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình – Hà Nội): “Làm giáo viên chủ nhiệm là một nghệ thuật”. Mà theo tôi “Nghệ thuật” hơn cả là giáo viên chủ nhiệm cần tạo ra được “Tam giác đều” trong giáo dục đạo đức học sinh. Cụ thể giáo viên chủ nhiệm là nhịp cầu nối các mối quan hệ:
2.1       Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với tổ chức Đoàn trong nhà trường:
-    Ở trường THPT phần đa học sinh là đoàn viên, lớp học là đơn vị tổ chức cơ bản của trường học, cũng là chi đoàn – giáo dục đạo đức lối sống lành mạnh cho đoàn viên thanh niên là nhiệm vụ của toàn xã hội nhưng trước hết là vai trò của nhà trường. Trong trường học có nhiều tổ chức, tại đây đoàn thanh niên là tổ chức chính trị xã hội có trách nhiệm trong việc giáo dục lí tưởng, truyền thống, tổ chức các phong trào thi đua nhằm đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục, hướng học sinh đến lối sống đẹp, có ích, nâng cao chất lượng thi đua học tập, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đấu tranh chống tệ nạn xã hội… Nhưng sự tác động của tổ chức đoàn đối với học sinh sẽ không thể có hiệu quả nếu thiếu “nhịp cầu” giáo viên chủ nhiệm. Do vậy, giáo viên chủ nhiệm phải chủ động nắm bắt chủ trương, kế hoạch chung của đoàn trường, phối hợp với ban cán sự lớp (Ban chấp hành chi đoàn) lồng ghép triển khai, tuyên truyền đôn đốc thực hiện trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm. Thông qua những hành động thiết thực đó sẽ góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh.
-    Ở trường THPT bên cạnh tổ chức đoàn còn có ban quản sinh. Ban quản sinh có nhiệm vụ quản lí về mức độ chuyên cần, tác phong, nề nếp (trường THPT Thanh Bình hai tổ chức này là một). Do vậy, giáo viên chủ nhiệm có thể thông qua tổ chức đoàn để nắm bắt rõ hơn về đặc điểm tình hình của học sinh trong lớp. Sự phối hợp này giúp giáo viên chủ nhiệm kịp thời uốn nắn những sai phạm về đạo đức, tác phong của học sinh.
-    Từ chủ đề hành động của tổ chức đoàn hàng tuần, hàng tháng giáo viên chủ nhiệm xây dựng chuyên mục “chia sẻ” theo chủ đề để thanh niên, đoàn viên trong lớp nói lên những tâm tư, suy nghĩ, mong muốn, hành động… Từ đó, giáo viên chủ nhiệm sẽ trao đổi, tư vấn với tổ chức đoàn về những hoạt động cụ thể, thiết thực, thu hút sự quan tâm của đoàn viên, thanh niên hơn. (Bản thân từng làm cán bộ đoàn trong 5 năm).
Ví dụ: Trong tháng 10, đoàn trường phát động quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt, và quyên góp tập vở nh ằm thực hiện công trình thanh niên… tôi đã lồng ghép trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm chủ đề “chia sẻ với cộng đồng” - về thông tin lũ miền Trung – học sinh nói về thực trạng mà các em biết Þ Qua đó giáo dục các em lối sống đẹp biết quan tâm chia sẻ, không thờ ơ vô cảm… Đồng thời cũng giới thiệu với đoàn trường về hoàn cảnh đặc biệt của đoàn viên, thanh niên để tổ chức đoàn có sự quan tâm thiết thực - điều này sẽ khích lệ các em rất lớn, giúp học sinh tin tưởng hơn về những hoạt động có ý nghĩa của chính mình.
Chủ đề hoạt động đoàn trường tháng 11 là “Lập thành tích chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11” cùng với việc triển khai các hoạt động cụ thể như làm báo tường, thi đua thể thao, cắm hoa, văn nghệ… ngoài việc triển khai giao nhiệm vụ, đôn đốc thực hiện giáo viên chủ nhiệm còn khuyến khích học sinh “chia sẻ” - cảm nghĩ của mình về ngày nhà giáo, về một người thầy, về một kỷ niệm thời học sinh… Þ giáo dục các em truyền thống tôn sư trọng đạo, ân nghĩa… (Những phần chia sẻ chân thật, cảm động – giáo viên chủ nhiệm duyệt đăng báo tường).
2.2       Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với hội cha mẹ học sinh; chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội:
-    Giáo viên chủ nhiệm là người nắm rõ mọi chủ trương, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, do đó trở thành “nhịp cầu” trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường với phụ huynh học sinh. Mặt khác, thu nhận thông tin, ý kiến, nguyện vọng của phụ huynh học sinh để báo lại với lãnh đạo nhà trường. Từ đó gắn kết được trách nhiệm giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh. Sự phối hợp giữa hội cha mẹ học sinh với giáo viên chủ nhiệm được thực hiện có tổ chức theo kế hoạch chung của nhà trường bằng những cuộc họp định kỳ. Thông qua những cuộc họp này, giáo viên chủ nhiệm ngoài việc truyền đạt chủ trương, thông báo của nhà trường, còn trực tiếp báo cáo với cha mẹ học sinh về thực trạng của lớp, tình hình học tập, tư cách đạo đức của từng học sinh. Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải bám sát, gần gũi, có trách nhiệm và tình thương để có những nhận xét, đánh giá phân minh nhất đối với từng đối tượng - điều này sẽ giúp phụ huynh học sinh tin tưởng đối với việc giáo dục của nhà trường và kịp thời chấn chỉnh việc học và tác phong đạo đức học sinh.
-    Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm còn chủ động liên hệ mời phụ huynh đến trường hoặc giáo viên chủ nhiệm đến nhà trao đổi riêng, bàn bạc giải pháp giáo dục và khắc phục những sai phạm của học sinh.
-    Mỗi lớp đều có ban chấp hành chi hội, giáo viên chủ nhiệm tham vấn với ban chấp hành chi hội nhằm có những hành động thiết thực để động viên, quan tâm đúng mức với mọi hoạt động của lớp, của trường. Mặt khác, để nắm bắt những hành động sát thực của học sinh ở trường, lớp, giáo viên chủ nhiệm mời đại diện chi hội cùng tham gia sinh hoạt lớp, tiếng nói động viên, căn dặn của phụ huynh học sinh cũng có tác dụng tích cực trong việc giáo dục đạo đức học sinh, đây cũng là cơ hội gặp gỡ để phụ huynh học sinh trao đổi những suy nghĩ, mong muốn của gia đình trong việc giáo dục. Sự phối hợp chặt chẽ đó sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm hiểu cặn kẽ hơn từng đối tượng học sinh và có phương pháp phù hợp cho từng đối tượng (đặc biệt là những học sinh cá biệt, có hành vi, lối sống lệch chuẩn).
-    Gia đình là nơi đầu tiên và có trách nhiệm cao hơn cả trong việc hình thành nhân cách học sinh. Song có những gia đình thiếu kiến thức sư phạm nên đi ngược lại với mục tiêu giáo dục của nhà trường. Do đó, giáo viên chủ nhiệm có liên hệ, trao đổi với phụ huynh học sinh thì mới thống nhất được phương pháp giáo dục hiệu quả.
-    Như đã trình bày trên – giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên là nhiệm vụ của toàn xã hội, do vậy, ngoài việc phối hợp với tổ chức đoàn, hội cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh. Bởi hiện nay trẻ vị thành niên – trẻ trong độ tuổi THPT có những biểu hiện, hành động lệch chuẩn ngày càng nhiều. Điều đó là do sự tác động không nhỏ của môi trường sống và của những phần tử xấu. Do đó, giáo viên chủ nhiệm cần nắm rõ địa bàn cư trú của học sinh lớp mình, đồng thời cũng cần tìm hiểu tình hình an ninh xã hội nơi đó, nhất là địa bàn cư trú của những học sinh có biểu hiện chưa tốt – khi cần thiết sẽ trao đổi, nhờ sự can thiệp của chính quyền địa phương.
Ví dụ: Báo với chính quyền địa phương khi giáo viên phát hiện học sinh kéo bè, kết cánh đánh nhau, đua xe,… (ở mức mà cá nhân không can thiệp, giải quyết được) - nhằm ngăn chặn kịp thời, tránh xảy ra hậu quả đáng tiếc, hơn thế học sinh sẽ không giám lộng hành. Ngược lại, khi chính quyền địa phương phát hiện học sinh có những hành động sai trái, vi phạm pháp luật, ngoài việc can thiệp trực tiếp, chính quyền địa phương còn báo về trường, về giáo viên chủ nhiệm để nhà trường tiếp tục giáo dục đạo đức học sinh.
-    Cùng với nhà trường phối hợp với các tổ chức xã hội như: Hội từ thiện, tổ chức dạy nghề, hội phụ nữ,… tạo điều kiện hỗ trợ cho học sinh (đặc biệt là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) vươn lên trong cuộc sống. Qua đó góp phần giáo dục học sinh ý thức phấn đấu vượt khó - xứng đáng với sự quan tâm của xã hội.
Công tác chủ nhiệm một công việc không mới nhưng thực sự khó đối với người chưa thật tâm huyết với nghề và với trò. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm về bản chất là một hoạt động sáng tạo nhất trong công tác giáo dục. Không có phương pháp, kế hoạch tối ưu cho mọi đối tượng học sinh, cho mọi lớp học. Nhưng xét thấy giáo dục toàn diện một con người không thể bằng cảm tính, cá nhân, do vậy, việc phối hợp với các tổ chức có liên quan mà trong đó sự phối hợp của giáo viên chủ nhiệm với tổ chức đoàn, hội cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội là cần thiết mang tính tất yếu. Cách làm mang tính truyền thống nhưng vẫn hiệu quả vì bản chất đó là hành động rất sáng tạo của mỗi cá nhân đối với từng học sinh lớp chủ nhiệm. Đạo đức của một con người được hình thành, hoàn thiện luôn luôn chịu sự tác động của 3 yếu tố đó là gia đình, nhà trường và xã hội, nếu người giáo viên chủ nhiệm biết khéo léo và tận tâm phối hợp thì chắc chắn hiệu quả giáo dục sẽ được nâng cao.
III./ HIỆU QUẢ CỦA CHUYÊN ĐỀ:
Với việc làm này tôi đã áp dụng nhiều năm và trong công tác chủ nhiệm tôi đã thu được kết quả nhất định. Qua việc phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với tổ chức đoàn, hội cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội giúp tôi hoàn thành tốt vai trò giáo viên chủ nhiệm – với phụ huynh tôi đã tạo được uy tín, sự biết ơn; với nhà trường và đồng nghiệp tôi đã nhận được sự tin tưởng (năm học nào nhà trường cũng giao công tác chủ nhiệm, 12 năm từ khi vào ngành đã có 9 năm được giao chủ nhiệm học sinh cuối cấp); Với học sinh tôi nhận được sự tôn trọng, yêu thương và sẻ chia. Hiệu quả hơn cả là đã giáo dục được những học sinh cá biệt, tạo được cho học sinh cảm giác thích đến trường, tạo được tập thể lớp đoàn kết, vững mạnh, học sinh tích cực… Þ Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
IV./ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ, KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:
-    Công tác chủ nhiệm lớp là một nghệ thuật, không có cái chuẩn, giải pháp tối ưu tuyệt đối để giáo dục mọi đối tượng học sinh. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp. Song, trong mọi phương pháp không thể thiếu tâm huyết, tình thương và bản thân phải luôn gương mẫu, gần gũi, thân thiện. Công tác chủ nhiệm là một công việc vất vả nhưng cũng đem đến nhiều niềm vui. Do vậy, phải thực sự yêu nghề, biết tích luỹ kinh nghiệm thì mới thành công trong công tác này.
Trước những hiệu quả mà chuyên đề đem lại, tôi mong muốn tất cả giáo viên tham gia công tác chủ nhiệm hãy vì thế hệ tương lai cùng sáng tạo tìm tòi những giải pháp nhằm thực hiện tốt vai trò giáo dục toàn diện cho học sinh mà trong đó quan tâm nhiều hơn việc giáo dục nhân cách cho học sinh trung học.
 
 

Chuyên đề 9:  PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC

Thực hiện: GV Lê Thị Thu Phương
Đơn vị: THPT Võ Trường Toản
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Quản lí lớp học là công tác chủ nhiệm có ý nghĩa rất lớn trong việc bồi dưỡng đạo đức và hoàn thiện nhân cách của học sinh (HS). Công tác này đòi hỏi sự khéo léo, linh hoạt và nhiệt tâm của mỗi giáo viên (GV). Không phải giáo viên chủ nhiệm nào cũng có được một phương pháp tốt để quản lí lớp học của mình, thậm chí còn tỏ ra lúng túng trong một số tình huống sư phạm. Thêm nữa, nhìn lại chặng đường đã qua của công tác giáo dục, xã hội nói chung và các thầy cô giáo nói riêng không khỏi băn khoăn về một số phương pháp quản lí lớp học trước đây tỏ ra thiếu hiệu quả, thậm chí còn gây tổn hại lâu dài và nặng nề về thể chất cũng như tinh thần của học sinh. Vì thế, đổi mới công tác chủ nhiệm với phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục tích cực thực sự là mong mỏi và thu hút được sự quan tâm của xã hội và đặc biệt của những người đang đứng trên bục giảng. Bản thân tôi đã giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm được 4 năm trong quá trình làm việc tôi rút ra được một số kinh nghiệm nhỏ và mong muốn được đóng góp một vài ý kiến của mình về phương pháp giáo dục tích cực này, với hi vọng ý kiến đó sẽ phần nào gợi ý cho những giáo viên chủ nhiệm làm tốt hơn công tác của mình.
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận:
Phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực được phát triển từ dự án Môi trường thân thiện do Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển thực hiện thí điểm ở 12 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và hiện tại đang được nhân rộng ra tại các trường Tiểu học, THCS, THPT trên cả nước. Trước khi đóng góp cho chuyên đề một số các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực, tôi xin trình bày một số những nội dung sau để có cái nhìn ban đầu về kỉ luật, biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực:
a. Khái niệm kỉ luật:
Theo từ điển tiếng Việt,  kỉ luật là tổng thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để bảo đảm tính chặt chẽ của tổ chức, là hình thức phạt đối với người vi phạm kỉ luật.
Theo quan điểm của Cambell – nhà tâm lí học người Anh: Kỉ luật có nghĩa là rèn luyện cho tâm trí và nhân cách của trẻ để giúp đỡ trẻ trở thành những người biết tự chủ và có ích cho xã hội, sự kỉ luật bao gồm : hướng dẫn trẻ bằng cách nêu gương, khuyên dạy bằng lời nói, bằng sách vở, dạy dỗ và giúp trẻ học thông qua kinh nghiệm vui tươi. Hình phạt chỉ là một trong số những biện pháp của việc kỉ luật, thậm chí còn là biện pháp kỉ luật tiêu cực nhất.
Như vậy, theo hai cách hiểu trên ta thấy kỉ luật là những quy định và hình phạt, song trong giáo dục cần đưa ra những kỉ luật có tác dụng giáo dục tích cực đến người học.
b. Khái niệm biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực:
Biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực là cách giáo dục dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của HS, không làm tổn hại đến thể xác và tinh thần của HS, có sự thỏa thuận giữa GV – HS và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HS.
Theo như khái niệm trên cho ta hai cách hiểu về phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực . Thứ nhất,  đó là biện pháp giáo dục ý thức kỉ luật (ý thức tôn trọng nội quy trường lớp, đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục của nhà trường) ở HS một cách tích cực. Thứ hai, đó là  biện pháp giáo dục bằng các hình thức kỉ luật có tác động một cách tích cực đến người học.
2. Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay, không ít GV có thói quen giáo dục HS bằng cách trừng phạt thể xác: đánh HS bằng tay hoặc roi, bắt HS đi quanh sân đeo bảng kê tội trước ngực, dán băng keo vào miệng, tự vả vào miệng mình khi mắc lỗi nói chuyện trong lớp, bắt HS quỳ gối, ngậm giẻ và liếm ghế….Còn có GV trừng phạt về tinh thần bằng cách xỉ nhục, hạ thấp nhân phẩm của HS như : chửi bới, xa lánh…
Có nhiều GV tỏ ra bất lực trong việc giáo dục những HS cá biệt, khó bảo, nên đã sử dụng bạo lực. Biện pháp này thiếu hiệu quả, thậm chí là biện pháp tiêu cực, phản giáo dục, chỉ có tác dụng trước mắt, gây thương tổn về lâu dài đến tinh thần của HS. HS phát triển thái độ thù nghịch, về lâu dài các em trở nên chai lì với đòn roi, hung tợn và hiếu thắng.
Cũng đã có những GV phạt tiền cho mỗi lỗi vi phạm của HS. Mặc dù ở mức độ nào đó hình phạt này có thể hạn chế sự vi phạm của HS, được sự chấp thuận, đồng tình của tập thể lớp và phụ huynh học sinh nhưng sẽ tác động tiêu cực đến nhận thức của các em. Vô hình chung tạo nên ở HS nét suy nghĩ: mọi tội lỗi, sai phạm đều có thể mua chuộc được bằng đồng tiền.
3. Giải pháp:
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực trạng giáo dục với việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỉ luật học sinh, tham luận này xin đưa ra một số các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực. Theo cách hiểu giáo dục kỉ luật tích cực là biện pháp giáo dục ý thức kỉ luật  (ý thức tôn trọng nội quy trường lớp, đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục của nhà trường) ở HS một cách tích cực, có thể áp dụng một vài biện pháp có ý nghĩa đi trước ngăn chặn việc HS vi phạm kỉ luật sau:
a. Biện pháp 1: Thay đổi cách cư xử trong lớp học:
Thay đổi cách cư xử là dựa trên cơ sở động viên, khuyến khích, nêu gương, tìm hiểu nhằm thúc đẩy HS có thái độ và hành vi đúng.
GV cần nắm bắt được tình hình, đặc điểm lớp học từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp. GV không nên cầu toàn, đặt quá nhiều kì vọng vào HS, không nên yêu cầu quá cao ở học trò. GV cần ghi nhận những cố gắng và kết quả mà các em đạt được về mọi mặt học tập, nề nếp hay tham gia các hoạt động văn thể mĩ của trường. Đồng thời khuyến khích các em phát huy thế mạnh của mình, kích thích sự tích cực của mỗi cá nhân trong lớp học. GV cần tuyên dương HS có tiến bộ trong mỗi tuần. Sự động viên, khích lệ kịp thời của GV sẽ có sức mạnh cổ vũ sự tự ý thức của HS.
GV nhận xét, góp ý một cách khéo léo về những điều mà các em chưa làm được hoặc làm chưa tốt, không nên chê bai, chỉ trích vì điều đó sẽ làm thui chột đi sự tích cực chủ động ở các em. Hãy để HS cảm nhận được sự tin tưởng của thầy cô dành cho chúng.
Mỗi lời nói, mỗi hành động, tác phong cũng như cách cư xử của GV trên lớp sẽ có tác động không nhỏ đến nhận thức và tình cảm của học trò. GV sẽ không thuyết phục được HS nghe theo sự chỉ dạy của mình nếu như bản thân không chuẩn mực và thiếu đi sự chân thành. Cho nên, mỗi GV phải là một tấm gương sáng về nhân cách để HS noi theo.
b. Biện pháp 2: Quan tâm đến những khó khăn của HS:
Mỗi HS đến trường với những hoàn cảnh và điều kiện khác nhau cả về vật chất lẫn tinh thần ( sức khỏe, nhận thức, tâm lí…). Những điều kiện đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và rèn luyện đạo đức của các em trên lớp. Vì vậy, quan tâm đến những khó khăn của HS là việc làm vô cùng cần thiết.
GV nên tìm hiểu kĩ về hoàn cảnh của từng học sinh và đặc biệt chú ý đến những HS có hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn tình cảm do cha hoặc mẹ mất sớm, cha mẹ li hôn, gia đình bất hòa, cha mẹ thiếu sự quan tâm. Những HS có hoàn cảnh này thường dễ có thái độ sống buông thả, bất cần; vi phạm nội quy lớp học. GV lúc này không chỉ đóng vai trò là người thầy mà còn là người bạn gần gũi, thân thiện, được HS tin tưởng tâm sự, sẻ chia những khó khăn, vướng mắc của mình. GV cần lắng nghe và gợi ý, định hướng cho HS giải quyết những khó khăn của mình. Nếu mỗi GV gần gũi và tạo được sự tin tưởng ở học trò thì chắc chắn sẽ có ít hơn trường hợp vì giận gia đình, vì đổ vỡ trong chuyện tình cảm mà tìm đến những cái chết thương tâm.
GV liên hệ, trao đổi qua điện thoại hoặc tìm đến gia đình những HS có hoàn cảnh khó khăn để hiểu và có sự cảm thông đối với các em. GV có thể thông qua trước lớp việc miễn lao động, đối với những HS nhà xa, thể chất yếu. Cuối mỗi học kì, GV gợi ý lớp trích quỹ để khen thưởng, động viên những HS vượt khó vươn lên trong học tập.
c. Biện pháp 3: Tăng cường sự tham gia của HS trong việc xây dựng nội quy:
Nội quy là những điều quy định để bảo đảm trật tự và kỉ luật của lớp học. Nội quy lớp học được xây dựng trên cơ sở ý kiến của tập thể lớp, cha mẹ học sinh. HS là người tự đề ra nội quy và thực hiện theo nội quy đó. Điều này có ý nghĩa tác động vào tinh thần tự giác của HS, tình thần tôn trọng kỉ luật tập thể mà chính các em đề ra. Hiện tại ở lớp 11A13 tôi đang chủ nhiệm đang thực hiện theo nội quy đã được tập thể lớp thông qua từ đầu năm học:
- Đi học đúng giờ, không nghỉ học không phép, không cúp tiết.
- Làm bài tập đầy đủ trước khi đến lớp, tích cực xây dựng bài mới.
- Không nói chuyện, không làm việc riêng trong lớp.
- Không vi phạm quy định về đồng phục
- Tích cực tham gia hoạt động do đoàn, trường phát động.
- Tham gia đầy đủ và nghiêm túc các buổi tập trung.
- Không gây mất đoàn kết trong lớp.
- Không đánh nhau, tàng trữ vũ khí.
- Không vô lễ với GV, Cán bộ công nhân viên nhà trường, không xúc phạm đến bạn, không nói tục chửi bậy.
- Đóng góp đầy đủ, đúng quy định.
- Không vẽ bậy lên bảng, bàn ghế, vệ sinh sạch sẽ lớp học và không làm trừ điểm thi đua của lớp…
Nếu thực hiện tốt nội quy, mỗi tuần HS được thưởng 100 điểm.
- Nếu HS được điểm tốt trong tuần thì được cộng thêm 5 điểm/điểm tốt
- Vi phạm mỗi lỗi bị trừ 5 điểm
Xếp loại:
+ Nếu tổng điểm của tuần 91- 100 điểm: đạt loại xuất sắc
+ Nếu tổng điểm của tuần đạt từ 80 - 90 điểm: đạt loại Tốt.
+ Nếu tổng điểm của tuần đạt 65 - 79 điểm: đạt loại khá.
+ Nếu tổng điểm của tuần đạt 50 - 64 điểm: đạt loại trung bình.
+ Nếu tổng điểm của tuần đạt dưới 5 điểm : đạt loại yếu.
GV và Ban cán sự lớp kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc chấm điểm về ý thức kỉ luật của các thành viên trong lớp để đảm bảo sự khách quan và công bằng. Việc chấm điểm trong quá trình thực hiện nội quy sẽ kích thích sự hào hứng, tạo không khí thi đua sôi nổi giữa các thành viên trong lớp học.
d. Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động xây dựng tập thể lớp:
Một tập thể lớp tốt là một tập thể đoàn kết, thân ái, thân thiện, cởi mở, tôn trọng nhau. Để xây dựng tập thể đó GV cần tăng cường tổ chức các hoạt động nhóm, tổ chức trò chơi hoặc hướng dẫn HS tự tổ chức trò chơi trong các giờ sinh hoạt lớp. Thiết nghĩ những giờ sinh hoạt vui chơi như vậy sẽ giúp HS mạnh dạn hơn, tăng cường sự gắn bó đoàn kết trong lớp học.
GV chia lớp thành 4 tổ, mỗi tổ sẽ đảm nhận nhiệm vụ tổ chức trò chơi trong giờ sinh hoạt của từng tuần. Có phần thưởng dành cho các nhóm. Mỗi tháng hoặc vào những dịp đặc biệt như: 20/10, 20/11, 25/ 12, tết,… GV có thể thiết kế trò chơi (có thể mô phỏng hoặc dựa vào những trò chơi truyền hình như: Đường lên đỉnh Olimpia, Rung chuông vàng, Đuổi hình bắt chữ, Trò chơi âm nhạc…) bằng giáo án Power Point với những hình ảnh và âm thanh sinh động, hấp dẫn. Biện pháp giáo dục tích cực này tôi đã áp dụng tại  lớp 11A13 mình đang chủ nhiệm và đã được HS trong lớp nồng nhiệt tham gia. Biện pháp này đã kích thích được sự chủ động, tinh thần tham gia vào hoạt động tập thể của các em.
e. Biện pháp 5: Một số hình phạt tích cực:
Mục tiêu của giáo dục là phát triển con người một cách toàn diện, chú trọng giáo dục, tác động, uốn nắn hành vi hơn là trừng phạt, răn đe. Trong một số trường hợp HS cá biệt, vi phạm nội quy trường lớp, các biện pháp giáo dục ý thức kỉ luật HS tỏ ra bất lực thì các hình thức kỉ luật bằng hình phạt mới được đưa vào để giáo dục. Như vậy, hình phạt chỉ là biện pháp sau cùng nhằm mục đích điều chỉnh những sai phạm của người học. Biện pháp kỉ luật bằng hình phạt phải vì lợi ích của HS, không gây tổn hại đến thể xác và tinh thần của các em. Dưới đây là một số hình thức kỉ luật tích cực có thể tham khảo:
e.1. Lao động tích cực:
e.1.1. Vệ sinh trường lớp:
Đối tượng bị phạt lao động là những HS xả rác bừa bãi, viết bậy hoặc vấy bẩn lên tường lớp học, làm hư hại cơ sở vật chất của trường. HS bị phạt sẽ vệ sinh trường lớp, tự khắc phục hậu quả do hành vi vô ý thức của các em gây ra. Biện pháp giáo dục bằng hình thức kỉ luật lao động này sẽ giúp HS biết trân trọng môi trường sạch đẹp mình đang có, giúp HS ý thức rằng việc giữ gìn cảnh quan trường lớp không phải chỉ là công việc của những lao công mà là trách nhiệm của mỗi HS với ngôi trường của mình.
e.1.2. Trồng cây xanh:
HS cũng có thể đi trồng cây (cây cảnh, cây bong mát, cây thuốc nam…) hoặc chăm sóc cây tạo bóng mát trong khuôn viên của trường. Hành động này sẽ bồi dưỡng tình yêu và thái độ thân thiện với môi trường. Hơn nữa, HS sẽ ngày càng biết quý trọng lao động và giá trị của lao động.
Đây là biện pháp kỉ luật tích cực song hiệu quả của nó cần phải có thời gian để kiểm chứng. Hơn nữa, khuôn viên của nhà trường có hạn, không có nhiều không gian để thực hiện và cần có sự đầu tư để bảo vệ kết quả lao động của HS.
Do vậy, cần hạn chế số lượng cây trồng, chú trọng vào khâu chăm sóc, bảo quản, quan tâm đến chất lượng lao động hơn là số lượng. Mỗi lớp cần được phân công một không gian riêng để trồng cây và tự bảo vệ. HS có thể trồng những cây cảnh nhỏ, nếu phát triển tốt HS bứng trồng vào những chậu cảnh và đặt trên bàn của GV thay cho những bình hoa giả vẫn được sử dụng từ trước đến nay. Hoặc đặt những chậu cảnh đó tại góc lớp cạnh bục giảng hay đặt cạnh cửa sổ tạo không gian trong lành, thoáng mát, giảm bớt sự căng thẳng trong lớp học.
Để động viên HS tích cực hơn trong việc trồng cây và tạo cảnh quan cho lớp học, ngoài sự khích lệ, khen ngợi của GV chủ nhiệm, nhà trường cần tuyên dương trong giờ sinh hoạt dưới cờ những lớp học có không gian sạch sẽ, dễ chịu và có thẩm mĩ…
Biện pháp giáo dục kỉ luật bằng hình thức trồng cây xanh có ý nghĩa rất lớn, giúp HS thêm yêu và gắn bó, biết giữ gìn và bảo vệ ngôi trường và lớp học của mình. Song biện pháp này chỉ có thể áp dụng ở những trường có mặt bằng rộng rãi.
e.1.3. Giúp đỡ những gia đình HS nghèo vượt khó (trong trường, lớp)
GV tập hợp danh sách những HS vi phạm nội quy như: đánh bài, chơi cờ caro, cúp tiết, chơi điện tử…huy động những HS này đi lao động giúp đỡ những gia đình HS trong trườn hoặc lớp có hòan cảnh khó khăn mà vươn lên trong học tập. Hành động thiết thực này giúp HS hiểu và thông cảm hơn với hoàn cảnh sống của bạn mình, thấy ở bạn mình một tấm gương về nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Từ đó, hướng HS đến nhận thức thái độ sống, học tập chưa đúng đắn của mình. Trong những giờ lao động, GV có điều kiện gần gũi và khéo léo tác động vào nhận thức và tình cảm của HS để các em tự điều chỉnh hành vi của mình theo chiều hướng tích cực.
Khó khăn khi thực hiện biện pháp này là cần rất nhiều thời gian, rất khó xác định lao động những gì để giúp đỡ những gia đình HS khó khăn. Nếu như phân công lao động không hợp lí sẽ lãng phí thời gian mà không mang lại hiệu quả. Mặt khác, sẽ là bất lợi nếu gia đình HS được giúp đỡ ở địa bàn cách xa trường học.
Để khắc phục những khó khăn này, GV cần liên hệ trước với gia đình HS đó, ngỏ ý giúp đỡ và hỏi thăm trước những công việc mà gia đình đó cần chia sẻ. GV phân công lao động và lựa chọn những gia đình HS ở không quá xa địa bàn trường học.
Nói tóm lại, biện pháp giáo dục này có thể chỉ áp dụng với HS ở vùng nông thôn. Kết quả mà GV hướng tới từ biện pháp giáo dục này là bồi dưỡng tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách và sự tự ý thức ở HS. Nếu là HS thành phố, GV có thể huy động các em đến trung tâm giáo dục của người khuyết tật để giúp đỡ, để cảm thông chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh, thiệt thòi; để thấy được mình thực sự may mắn và biết quý trọng hơn những gì đang có và có thái độ đúng đắn hơn trong học tập.
e.2. Đọc sách:
Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của nhân loại. Sách cung cấp cho chúng ta vô vàn kiến thức về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên và xã hội. Sách không chỉ nâng cao tầm hiểu biết mà còn bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách cho người đọc. Cho nên việc đọc sách là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhận thức được những ích lợi của việc đọc sách, GV đưa ra hình thức kỉ luật HS: đến thư viện của trường tìm đọc một cuốn sách mà GV giới thiệu. Trong thời gian 1 tuần HS phải đọc và chia sẻ những điều mà mình đã đọc và học được ở cuốn sách đó trong giờ sinh hoạt lớp.
Giá trị của biện pháp này là giúp HS hiểu được vai trò, tầm quan trọngcủa sách, ý nghĩa của việc đọc sách, kích thích ở HS khả năng tự đọc, tự học, hình thành ở HS thói quen đọc sách và tra cứu tài liệu. Việc giới thiệu  hững điều mình đọc được với các bạn trong lớp sẽ rèn luyện thêm cho HS một số kĩ năng giao tiếp, giúp HS mạnh dạn, tự tin trình bày trước tập thể những suy nghĩ của mình. Nếu HS giới thiệu tốt có thể gây được sự tò mò, hứng thú của một số HS khác trong lớp, kích thích những HS đến với thư viện nhiều hơn.
Khi đọc sách chắc chắn HS sẽ bắt gặp không ít những bài học về cuộc đời, về tình yêu thương, sự bao dung, lòng vị tha cao thượng, những tấm gương về nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Và chắc chắn sẽ không có HS nào dửng dưng, vô cảm trước nghĩa cử cao đẹp trong đời, thờ ở trước nỗi đau của người khác, hay không hề phẫn nộ trước những việc làm xấu xa, vô nhân đạo. Khi biết phân biệt yêu - ghét, tốt – xấu, hay – dở, HS tự ý thức điều chỉnh hành vi của mình, có trách nhiệm hơn với việc học tập và cuộc sống của mình. Thiết nghĩ, đọc sách là biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực có hiệu quả lâu dài.
Có khó khăn khi thực hiện biện pháp này. Đó là khả năng tự đọc, nhận thức của mỗi HS khác nhau. Những HS vi phạm phần lớn lười học, không thuộc bài, không soạn bài, thường xuyên bị điểm kém…có học lực trung bình, yếu kém. GV không thể bao quát hết được những cuốn sách có trong thư viện trương đê hướng dẫn và kiểm chứng kết quả đọc của các em. Thêm nữa, không phải HS nào cũng gạt bỏ được sự tự ti để trước lớp giới thiệu một cách trôi chảy về cuốn sách mình đã đọc.
Giải pháp hạn chế khó khăn để biện pháp giáo dục trở nên hiệu quả hơn là GV không cầu tòan về kết quả đọc sách của HS, cần lựa chọn những cuốn sách tiêu biểu, có dung lượng vừa phải, hoặc GV sẽ lựa chọn chủ đề có nội dung giáo dục tương ứng với điều HS vi phạm:
VD: Đối với HS có thái độ vô lễ với GV, nói tục chửi bậy, đánh nhau, gây mất đoàn kết trong lớp, GV có thể đưa ra những chủ đề về tình thầy trò, tình bạn hoặc hướng HS đến những cuốn sách trong tủ sách Hạt giống tâm hồn: Giá trị của yêu thương, tấm lòng vàng, quà tặng cuộc sống, hay một số sách: Tinh hoa xử thế, Nghệ thuật sống, 365 ngày sống, Rèn luyện đức khiêm tốn…
VD: Đối với những HS lười học, ngủ hoặc làm việc riêng trong giờ, không soạn và không ghi chép bài đầy đủ, thường xuyên nghỉ học, cúp tiết, GV hướng HS đến những cuốn sách: Khoa học vui, Những bài toán dân gian đố vui, Danh nhân thế giới, Câu chuyện về các nhà khoa học………….
Để đạt được hiệu quả giáo dục từ biện pháp kỉ luật này, GV hướng dẫn HS cách đọc, thường xuyên động viên, khích lệ HS, không yêu cầu quá cao về kết quả tự đọc của các em, ghi nhận những điều HS đã làm được và  khen thưởng những HS tích cực đọc và trình bày khá tốt trước lớp. GV có thể yêu cầu 1,2,3 HS cùng đọc một cuốn sách, cùng giới thiệu về một đối tượng. GV lắng nghe, so sánh và uốn nắn lại.
Thêm nữa, GV cử ra một thư kí, ghi chép lại một cách chọn lọc những điều HS trình bày trước lớp, tổng hợp lại và post lên blog của lớp để mọi người cùng chia sẻ. Điều này sẽ tác động mạnh vào lòng tự trọng, sự kiêu hãnh của HS về những điều đã làm được. Từ đó HS tự xác định thái độ nghiêm túc trong việc đọc sách.
Nói tóm lại, nhờ biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực này làm cho hiểu biết của HS thêm phong phú bên cạnh những kiến thức được truyền dạy trên lớp. Việc HS chia sẻ trước lớp về cuốn sách nào đó cũng là một hoạt động rất thiết thực, lành mạnh và có tính giáo dục cao trong giờ sinh hoạt lớp.
4. Kết quả:
Ý thức được tầm quan trọng và ý nghĩa mà biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực mang lại, trong thời gian qua tôi đã vận dụng phần lớn biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực trên tại lớp chủ nhiệm của mình trong năm học 2009-2010, từ đầu năm học 2010-2011 đến nay và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan.
Về nề nếp, HS có ý thức hơn trong việc thực hiện nội quy lớp học, số HS vi phạm nội quy đã giảm. Do vậy, kết quả xếp loại hạnh kiểm cuối năm học 2009-2010 có sự cải thiện đáng kể: 70 % HS trong lớp đạt hạnh kiểm tốt tăng 10 %, 25 % HS đạt hạnh kiểm khá tăng 7 %,  5 % HS đạt hạnh kiểm trung bình giảm 7% (sự tăng giảm đó đều được so sánh với kết quả thống kê được từ kết quả của năm học trước). Và đặc biệt không có HS hạnh kiểm yếu. Có thể nhận thấy từ kết quả này là sự tiến bộ rõ rệt ở HS.
Về học tập,  HS đã tích cực hơn trong việc xây dựng bài, hạn chế được HS không thuộc, không soạn và không chép bài đầy đủ. Cuối năm, trong lớp có 1HS đạt học lực giỏi chiếm 2,2 % , tăng 4,5 %; 15 HS đạt học lực khá chiếm 33,3 %, tăng 12 %; 29 HS đạt học lực trung bình, chiếm 64,5% , tăng 20%. Không có HS yếu kém.
5. Bài học kinh nghiệm:
a. Ý nghĩa của việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực:
* Đối với HS:
Biện pháp giáo dục kỉ luật tích cưc có tác dụng khiến HS có nhiều cơ hội chia sẻ, HS được bày tỏ cảm xúc, được mọi người quan tâm tôn trọng và lắng nghe ý kiến. HS trở nên tự tin trước đám đông, phát huy được khả năng của mình.
* Đối với GV:
Khi sử dụng biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực sẽ nhận được những kết quả tốt đẹp như giảm được áp lực quản lí lớp học vì HS hiểu và tự giác chất hành kỉ luật. Từ đó, GV tạo được sự tin tưởng nơi HS, được HS tôn trọng và quý mến. Điều quan trọng nữa là xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò.
* Đối với nhà trường, gia đình và xã hội:
Nhà trường trở thành môi trường học tập thân thiện an toàn, tạo được niềm tin đối với xã hội. Sử dụng các biện pháp giáo dục tích cực sẽ giảm thiểu được tệ nạn xã hội, bạo hành và bạo lực; xã hội có được những công dân tốt, giàu khả năng phục vụ, cống hiến cho gia đình và xã hội trong tương lai.
b. Phương pháp và yêu cầu thực hiện:
Để phương pháp này được thực hiện có hiệu quả, cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa GV chủ nhiệm, nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội ở địa phương.
Khi vận dụng phương pháp trên cần chú ý đến đối tượng và mục tiêu giáo dục. Mỗi GV chủ nhiệm cần khéo léo, linh hoạt, không áp dụng một cách máy móc, cứng nhắc, đơn điệu để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất.
 Có những biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực chưa cho hiệu quả tức thời. Cho nên, khi vận dụng GV không nên nóng vội, cần có sự kiên trì và tâm huyết với công tác quản lí lớp học của mình.
III. KẾT LUẬN
Phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực là phương pháp giáo dục tiến bộ. Phương pháp này chủ yếu hướng tới sự tự giác, tự nhận thức và tự điều chỉnh hành vi của HS hơn là các áp dụng các biện pháp kỉ luật. Thực hiện tốt phương pháp này xây dựng được môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực; góp phần phát triển con người một cách toàn diện, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, cần nhân rộng, phát triển  phương pháp trên tại các trường học trên toàn quốc.
Thiết nghĩ, mỗi phương pháp cũng như biện pháp cụ thể được đưa ra cần được thực tiễn và thời gian kiểm chứng. Lí thuyết sẽ không còn là viển vông, không tưởng nếu như được thực hiện một cách nghiêm túc và có sự đầu tư xứng đáng. Trên đây là ý kiến tham luận của tôi, bày tỏ một góc nhìn về đổi mới công tác chủ nhiệm lớp, chắc chắn không tránh khỏi chủ quan và có phần phiến diện. Rất mong được sự lắng nghe và góp ý từ các tham luận khác để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về  phương pháp giáo dục thực sự mới mẻ và có ý nghĩa này.
IV. KIẾN NGHỊ
Sở cần tổ chức báo cáo chuyên đề hàng năm để các trường học hỏi kinh nghiệm những phương pháp hay và luôn có cái nhìn mới mẻ, tích cực về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp bậc trung học phổ thong. Qua đó cũng cần có sự tổng kết, đánh giá kết quả cũng như những khó khăn trong quá trình thực hiện các phương pháp giáo dục ở các trường phổ thông.
Công tác chủ nhiệm đòi hỏi mỗi GVCN cần có sự đầu tư về thời gian và tâm sức. Vì vậy, cần có sự quan tâm, động viên kịp thời và thiết thực về cả tinh thần lẫn vật chất của nhà trường và các cơ quan đoàn thể, để GV có thể yên tâm, dành trọn tâm huyết với nghề của mình.
Cần giảm thiểu thời gian giảng dạy trên lớp của GV và tăng cường thời lượng cho các tiết chủ nhiệm. Có như vậy, việc thực hiện các biện pháp giáo dục mới có điều kiện phát huy hết được hiệu quả của nó.

 

Chuyên đề 10: PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỈ LUẬT TÍCH CỰC

Thực hiện: GV Ngô Phương
Đơn vị: THPT Tôn Đức Thắng
I.Đặt vấn đề:
1/ Thế nào là một lớp học được quản lí tốt?
Một lớp học được quản lí tốt là một lớp học có kỉ cương, nền nếp; học sinh chấp hành nghiêm túc nội qui, qui định của trường, lớp. Trong một lớp học được quản lí tốt, học sinh phải chuyên cần, chăm chỉ học tập, chăm chú nghe giảng bài, tích cực phát biểu xây dựng bài…Lớp học được quản lí tốt còn là một tập thể năng động, đoàn kết, có tinh thần tương thân tương ái.
2/ Ưu điểm và hạn chế của các phương pháp quản lí truyền thống:
+ Thứ nhất: Dùng người chuyên trách để quản lí lớp:
Trong các trường học trước đây và hiện nay các trường tư thục ở thành phố Hồ Chí Minh thường có những người chuyên trách quản lí học sinh (được gọi là giám thị hoặc quản sinh). Do chỉ làm một nhiệm vụ là quản lí HS và một người chỉ quản lí từ một đến vài ba lớp nên  các quản sinh theo dõi, giám sát HS rất chặt chẽ, xử lí các vi phạm của HS kịp thời và rất chuyên nghiệp. Cho nên học sinh vì “ngán sợ” các thầy giám thị mà không dám vi phạm nội qui. Hạn chế của phương pháp này là  tốn kém ngân sách để trả lương cho bộ phận chuyên trách này.
+ Thứ hai:Dùng GV làm công tác kiêm nhiệm (được gọi là GVCN):
Trách nhiệm của GVCN được qui định khá cụ thể tại điều 19, chương V theo Quyết định số 40/2006/QĐ/BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thế nhưng trên thực tế, GVCN thường được coi là người quản lí lớp học, thậm chí phải làm người thu các khoản tiền như học phí, quĩ hội…và là người tổ chức các hoạt động phong trào do Đoàn  trường phát động cho lớp của mình. Rõ ràng là công việc là hết sức quá tải so với 4 tiết/tuần được tính cho GVCN trong khi người GVCN còn phải thực hiện nhiệm vụ chính là giảng dạy . Nhiều người  thường cho rằng GVCN là GV dạy bộ môn ở lớp nên có thuận lợi là gần gũi và hiểu HS hơn nhưng điều này chỉ đúng một phần vì do số tiết dạy ở lớp và do áp lực của chương trình giảng dạy nên thời gian để tìm hiểu HS là không nhiều. Như vậy, để quản lí lớp CN được tốt, GVCN phải thường xuyên có mặt ở lớp rồi lại thường xuyên sắp xếp thời gian để tiếp xúc với PH và HS…Tất cả đều đòi hỏi người GVCN phải có một nhiệt tình lớn và một quĩ thời gian nhiều, nhưng đấy là điều không phải ai cũng có.
3/ Thế nào là phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực?
+Các biện pháp giáo dục như thuyết phục, cảm hóa, gần gũi và thương yêu HS để dần dần uốn nắn làm cho HS tích cực, tự giác chấp hành nội qui; tích cực, tự giác học tập vốn được coi là các biện pháp tích cực nhưng nói thì dễ, làm thì khó. Nếu chúng ta vẫn chỉ nói suông như thế thì tình trạng chất lượng giáo dục giảm sút, bạo lực học đường tràn lan như hiện nay là khó tránh khỏi. Biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực hiện nay là kỉ luật phải hết sức nghiêm minh, kiểm tra đánh giá chất lượng văn hóa phải đúng thực chất để cho HS vì “sợ” bị kỉ luật, “sợ” ở lại lớp, “sợ” thi rớt mà phải tuân thủ nội qui, chăm chỉ học tập. Lúc đầu thì HS vì “sợ” mà tuân thủ nội qui, chăm chỉ học tập nhưng sau một thời gian các em sẽ quen dần. Việc đến trường thì phải học, phải chấp hành nội qui trở nên là điều bình thường, hiển nhiên chứ không còn cảm thấy bị bắt buộc nữa. Hãy lấy việc đội nón bảo hiểm làm ví dụ: Lúc đầu mọi người đội nón bảo hiểm là vì sợ bị phạt. Nhưng bây giờ nhiều người đã quen, nếu không đội nón bảo hiểm  lại cảm thấy không tự nhiên, thoải mái khi tham gia giao thông.
+Phương pháp quản lí lớp học là để cho HS tự quản lí lẫn nhau. Điều này không mới vì chúng ta đã nói nhiều về việc HS tự quản nhưng việc tự quản chỉ là trong  một vài tiết học GV vắng. Thực chất thì GVCN vẫn là người trực tiếp quản lí lớp. Để việc tự quản đúng thực chất thì GVCN chỉ nên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và can thiệp khi cần thiết. Ban cán sự lớp (Lớp trưởng, các lớp phó,và các tổ trưởng) là người điều hành các hoạt động và quản lí các thành viên khác của lớp.
II.Các phương pháp:
1/ Quản lí lớp học bằng biện pháp giáo dục ý thức tôn trọng nội qui, kỉ luật của HS:
a) Sự cần thiết của kỉ luật trong nhà trường và thực trạng “nhờn” kỉ luật, coi thường nội qui của HS:
Để điều chỉnh hành vi của người công dân, Nhà nước phải có pháp luật; để buộc mọi người tôn trong pháp luật, cần phải có những thiết chế ,công cụ như tòa án, nhà tù…Tương tự như thế, Nhà trường cũng cần có nội qui, điều lệ để điều chỉnh hành vi của HS; cần các biện pháp kỉ luật để buộc HS phải tôn trọng nội qui. Nội qui không chặt chẽ, kỉ luật không nghiêm thì HS sẽ “nhờn”. Học sinh “nhờn” kỉ luật thì kỉ cương, nền nếp của nhà trường sụp đổ, việc dạy và học sẽ không có chất lượng. Thực tế hiện nay có một số HS hư hỏng, đến trường không phải để học tập mà để tụ tập chơi bời, quậy phá. Do nhiều nguyên nhân như ảo tưởng về khả năng  giáo dục, cảm hóa của nhà trường với đối tượng này; sự vô trách nhiệm của cha mẹ HS, các qui định về mức độ kỉ luật quá mềm; sự e ngại ảnh hưởng đến thành tích của nhà trường… nên số HS này vẫn ngang nhiên tồn tại. Điều nguy hiểm là những tấm gương xấu này lại có khả năng lây lan, lôi kéo một bộ phận HS “lưng chừng”. Đây là những HS không chăm ngoan nhưng cũng chưa hư hỏng. Nếu thấy kỉ luật của nhà trường nghiêm thì số HS này sẽ khép mình trong khuôn khổ .Nhưng khi thấy những HS quậy phá mà chẳng bị nghiêm trị thì các HS này sẽ đua đòi, bắc chước để cuối cùng trở thành những HS hư. Do vậy, kỉ luật nghiêm khắc thì  chỉ loại ra một số HS hư hỏng; kỉ luật không nghiêm thì sẽ làm hư luôn những HS chưa hư.
b)Làm thế nào để HS “tự giác” chấp hành nội qui, kỉ luật?
Thuyết phục, cảm hóa, tác động bằng tình cảm… để HS tự giác chấp hành nội qui thì nghe rất hay nhưng  không thực tế. Với những HS chăm ngoan, có ý thức học tập thì chẳng cần ai thuyết phục, cảm hóa cả; các em rất tự giác chấp hành nội qui. Nhưng với đa số HS việc chấp hành nội qui là do “sợ” bị kỉ luật. Muốn HS chấp hành nội qui trước tiên các em phải hiểu nội qui; phải biết điều gì được làm, điều gì không được làm; vi phạm  mức độ nào là bị phê bình, kiểm điểm trước lớp, bị hạ hạnh kiểm; vi phạm mức độ nào là bị đưa ra Hội đồng kỉ luật… Tất cả đều có trong Điều lệ, qui định của nhà trường nhưng HS  lại không nhớ. Phải có những qui định thật rõ ràng, cụ thể và bắt HS học thuộc như người tham gia giao thông phải học thuộc luật giao thông (Xem Phụ lục 1). Để HS chấp hành tốt nội qui thì trách nhiệm không chỉ ở GVCN; đó còn là sự cộng đồng trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường, Đoàn trường, phụ huynh HS…Tất nhiên GVCN phải chịu trách nhiệm chính nhưng như thế không có nghĩa là lãnh đạo trường, Đoàn trường  không chịu trách nhiệm gì.
 c) Các phương pháp quản lí lớp học bằng biện pháp giáo dục HS ý thức kỉ luật:
-              Thứ nhất là vai trò chỉ đạo, hướng dẫn của GVCN: Do GVCN không phải lúc nào cũng có mặt ở trường và nếu đến trường thì còn phải thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các lớp khác nên việc quản lí lớp phải giao cho ban cán bộ lớp. GVCN  tổ chức, giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách quản lí lớp cho ban cán bộ lớp. GVCN phải thường xuyên kiểm tra, uốn nắn để cho bộ máy quản lí lớp chạy đều. Trong giờ sinh hoạt lớp, GVCN nên để cho ban cán bộ lớp điều hành và chỉ tham gia ý kiến chỉ đạo khi có những sự việc ban cán bộ lớp không giải quyết được.
-              Thứ hai là phát huy vai trò tích cực, chủ động của ban cán bộ lớp : Phải làm cho ban cán bộ lớp thấy rằng mình không phải là kẻ thừa hành, chỉ làm những công việc mà GVCN sai bảo. Ban cán bộ lớp phải có những quyền hành nhất định, phải có “tiếng nói” trong việc khen thưởng, xử lí kỉ luật và xếp loại hạnh kiểm HS. GVCN nên động viên ban cán bộ lớp đề xuất những biện pháp đưa lớp tiến bộ. Qua sự theo dõi của mình, ban cán bộ lớp có quyền yêu cầu các học sinh vi phạm nội qui hoặc lơ là học tập phải tự phê bình, kiểm điểm trước lớp… Tóm lại, vai trò của ban cán bộ lớp là hết sức quan trọng. Nó đòi hỏi cao tính gương mẫu, tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, không vị nể và nhiệt tình cao của người cán bộ lớp. Do đó việc chọn được một ban cán bộ lớp tốt là yếu tố tiên quyết để quản lí lớp thành công. Kinh nghiệm cho thấy không phải việc để cho tập thể lớp bầu ban cán bộ lớp bao giờ cũng tốt. Tuy phát huy dân chủ là cần thiết nhưng thực tế HS thường ưa bầu những bạn vui vẻ, dễ dãi và sẵn lòng bao che cho những khuyết điểm của mình trước GVCN làm cán bộ lớp. Vì vậy, GVCN nên hướng cho lớp bầu những HS có phẩm chất mà mình đã lựa chọn. Nếu cần, GVCN  trực tiếp chỉ định các HS làm cán bộ lớp thì vẫn tốt hơn so với bầu cử dân chủ nhưng không chọn được HS xứng đáng.
-              Thứ ba là phát huy yếu tố “cộng đồng trách nhiệm”: Phát huy tính cộng đồng trách nhiệm tức là làm cho những HS tốt hiểu rằng chỉ mình tốt là chưa đủ mà phải giúp cho bạn mình cùng tốt và làm cho những HS chưa tốt hiểu rằng việc mình vi phạm nội qui, lười học… không chỉ mình chịu hậu quả mà còn làm cho các bạn khác cũng bị “vạ lây”. Muốn vậy, GVCN phải xây dựng nội dung và biểu điểm thi đua giữa các tổ để khen thướng các tổ thi đua tốt và lấy kết quả thi đua tổ để định mức tỉ lệ phần trăm các xếp loại hạnh kiểm của những thành viên trong tổ. Ví dụ tổ xếp hạng nhất thì  định mức là 80% HS được xếp loại HK tốt, hạng nhì định mức là 60%, hạng ba định mức là 40%, hạng chót định mức là 20%...(Xem Phụ lục 2)
-              Thứ tư là phối hợp với PHHS như thế nào để vừa tiết kiệm thời gian vừa có hiệu quả?
Cách làm truyền thống là GVCN mời PHHS vi phạm đến trường để trao đổi biện pháp giáo dục HS hoặc tìm đến nhà HS để gặp cha mẹ các em. Cách làm này tốn nhiều thời gian của cả 2 bên do đó chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết. Cách thứ hai là liên lạc bằng điện thoại. Cách này tiện lợi nhưng tốn kém và đôi khi hiệu quả không cao (chẳng hạn như PHHS gọi điện xin phép cho con nghỉ học…). Cách thứ ba: GVCN lấy chữ kí mẫu của PHHS vào đầu năm. Đơn xin phép nghỉ học của HS phải có chữ kí xác nhận  đúng mẫu của PH. Những HS vi phạm nội qui, không thuộc bài… đều phải làm bản tự kiểm trước lớp. Bản tự kiểm đó phải có ý kiến và chữ kí đúng mẫu của PH. Như vậy HS sẽ không giả mạo được và PH sẽ nhận được các thông tin về việc học tập cũng như hạnh kiểm của con em mình.
2/  Quản lí lớp học để nâng cao chất lượng học tập của HS:
a) Chất lượng, hiệu quả của một giờ học nhìn từ phía HS:
Một tiết học có chất lượng và hiệu quả thì bên cạnh vai trò của GV còn có vai trò của HS bởi chính HS sẽ tạo tâm thế và cảm hứng cho tiết dạy của GV. Một lớp học mà HS không thuộc bài cũ, không chuẩn bị bài mới, không tập trung nghe giảng, không đưa tay phát biểu…thì GV có kinh nghiệm, nhiệt tình bao nhiêu cũng đành bất lực. Với những lớp mà HS thông minh, chăm học thì tự nó đã có “không khí” để tạo tâm thế và cảm hứng cho GV. Nhưng với các lớp HS vừa yếu vừa lười học thì các biện pháp quản lí của GVCN để tạo “không khí” lớp học là rất cần thiết.
b)Các biện pháp quản lí:
-              Một là phát huy vai trò của cán bộ lớp và cán sự bộ môn: Có những tiết học do GV bộ môn bao quát lớp tốt nên HS học tập nghiêm túc nhưng cũng có những tiết học GV bộ môn “thoải mái”, HS thừa cơ hội nói chuyện riêng gây mất trật tự. Ở những tiết này, vai trò và khả năng quản lí lớp của ban cán bộ lớp sẽ được phát huy. Bằng các biện pháp như nhắc nhở, ghi tên các HS làm mất trật tự để phê bình, kiểm điểm trước lớp, ban cán bộ lớp có thể giúp lớp học ổn định. Ban cán bộ lớp theo dõi, ghi nhận việc soạn bài, học bài cũ và phát biểu xây dựng bài của HS để làm căn cứ xếp loại thi đua giữa các tổ và để biểu dương những HS học tốt, phê bình kiểm điểm những học sinh không soạn bài, làm bài tập ở nhà , không thuộc bài cũ…Ban cán bộ lớp tổ chức, phân công cho các cán sự bộ môn giúp các bạn  giải những bài tập khó và quản lí lớp để việc tự học ở 15 phút đầu giờ có hiệu quả.
-              Hai là các hình thức khen thưởng và khiển trách HS trong học tập: Những HS không soạn bài, làm bài tập, không thuộc bài cũ…đều phải làm phê bình, kiểm điểm trước lớp. Cần phải đưa  việc học tập vào xếp loại hạnh kiểm HS. Số lần làm phê bình, kiểm điểm về học tập cũng như về thực hiện nội qui càng nhiều thì xếp loại HK càng thấp. Tuy nhiên cũng nên tạo cơ hội cho HS phấn đấu trong học tập. Chẳng hạn một HS kiểm tra bài cũ môn này  bị điểm 2 nhưng nếu  đạt được điểm 8 kiểm tra miệng môn khác thì sẽ được xóa một lần kiểm điểm trong tuần đó. Việc khen thưởng HS cũng cần có hình thức riêng. Thông thường  chỉ có những HS Giỏi, Khá được khen thưởng. Một HS học lực yếu mà phấn đấu lên TB thì không được khen mặc dù với HS đó việc đạt được loại TB là một cố gắng lớn.Bởi vậy, GVCN nên phối hợp với Chi hội PHHS có hình thức khen thưởng cho các HS có tiến bộ trong học tập như từ TB lên Khá, Yếu lên TB…Để việc học tập của mỗi HS trở thành phong trào, GVCN cần cụ thể hóa các khâu học bài cũ, chuẩn bị bài mới, phát biểu xây dựng bài thành các chỉ tiêu cụ thể trong thi đua giữa các tổ. Những  tờ tự phê bình hoặc kiểm điểm của các HS  không thuộc bài phải được PH xem và kí tên xác nhận. Như vậy, PH có thể nắm được tình hình học tập của con em mình để phối hợp với GVCN có biện pháp giáo dục thích hợp.
III.Kết luận và kiến nghị:
1/ Kết luận:
Nếu gặp một tập thể lớp ngoan ngoãn và chăm chỉ thì công tác chủ nhiệm của GV là một công tác hết sức thú vị. Giữa GVCN và HS sẽ có một quan hệ thân ái và gắn bó. GVCN khi đó là người bạn tâm tình, người cố vấn tin cậy cho HS về các vấn đề hóc búa của tuổi mới lớn, là người hướng dẫn cho các em về lẽ sống, về cách sống, về nghề nghiệp tương lai…Tuy nhiên, thực tế hiện nay công tác chủ nhiệm là một công tác nặng nề và chán ngán bởi GVCN phải dồn hết công sức để “đối phó” với những HS cá biệt, những HS đến trường để chơi chứ không phải để học. Hiện tượng nhiều GV không kềm chế được nên  chửi mắng, thậm chí đánh cả HS không phải không có một phần nguyên do từ những HS như thế.
2/ Kiến nghị:
 Chúng ta phải chấp nhận một thực tế là trong nhà trường phổ thông hiện nay có  những học sinh thiểu năng trí tuệ. Các em này dù chăm ngoan nhưng không thể tiếp thu bài học một cách bình thường như các HS khác. Đã chậm hiểu lại học trước quên sau nên nhiều khi thầy cô cho lên lớp chỉ vì thấy “tội” hoặc vì chạy theo thành tích. Bên cạnh đó là những HS thiểu năng về hành vi đạo đức. Đây là những HS đến trường chỉ để chơi bời, quậy phá mà dù thầy cô CN hết lời khuyên bảo, phân tích thiệt hơn; cha mẹ  khóc lóc năn nỉ, thậm chí đánh đập thì vẫn chứng nào tật nấy. Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, những HS như thế sẽ được giáo dục trong một trường học chuyên biệt với những phương pháp giáo dục mang tính đặc thù còn ở nước ta tất cả đều gom vào trường phổ thông. Như thế việc giáo dục những HS này vừa không hiệu quả vừa ảnh hưởng đến môi trường giáo dục gây bất lợi cho những HS khác. Bởi vậy, theo tôi, có lẽ không nên đầu tư vào việc xây dựng trường chuyên rất tốn kém mà hiệu quả vẫn chưa thấy đâu mà nên đầu tư xây dựng những trường học chuyên biệt cho các HS thiểu năng để tạo cơ hội cho các em vào đời như những HS bình thường khác.
Phụ lục 2
NỘI DUNG VÀ BIỂU ĐIỂM THI ĐUA TỔ
MỤC NỘI DUNG ĐIỂM
I.
NỘI
QUI
1/ Tác phong(trang phục giày dép, phù hiệu…):
+ Tổ không có HS vi phạm tác phong:
+ Có 1 HS vi phạm về tác phong:
2/ Chuyên cần:
+ Tổ không có HS vắng trễ, cúp tiết:
+ Có 1 HS vắng KP hoặc cúp tiết:
+ Có 1 HS vắng có phép hoặc trễ:
3/ Hành vi:
+ Tổ không có HS vi phạm:
+ Có 1HS có hành vi xấu bị kiểm điểm (theo qui chuẩn XL HK HS):
+ Có 1 HS có hành vi xấu bị phê bình( theo qui chuẩn xếp loại HK HS):
 
+10 đ
-5 đ
+10 đ
-5 đ
- 3 đ
+10 đ
-5 đ
- 3 đ
II
HỌC
TẬP
1/ Kiểm tra bài cũ:
+ Có 1 HS đạt điểm 8 trở lên:
+ Có 1 HS đạt điểm 6. 7:
+ Có 1 HS bị điểm 3, 4:
+ Có 1 HS bị điểm 2 trở xuống:
2/ Soạn bài và làm bài tập:
+ Có 1 HS không soạn bài, làm BT bị kiểm điểm:
+ Có 1 HS không SB, làm BT bị phê bình:
3/ Phát biểu xây dựng bài:
+ Xung phong phát biểu đúng:
+ Xung phong phát biểu nhưng sai:
 
+ 5 đ
+3 đ
-3 đ
- 5 đ
-5 đ
- 3 đ
+ 5 đ
+ 3 đ
III
HOẠT
ĐỘNG
KHÁC
(nếu
có)
1/ Tổ trực nhật  có 1 ngày trực không tốt:
2/ Lao động:
+ Tổ có HS đi LĐ đầy đủ và hoàn thành tốt công việc:
+ Tổ có HS vắng, chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ:
3/ Tham gia các phong trào Đoàn:
+ Tổ tham gia các hoạt động phong trào tích cực, được tuyên dương:
+ Tổ tham gia các hoạt động phong trào qua loa,chiếu lệ:
-5 đ
+10 đ
-10 đ
+10 đ
-10 đ
 KHEN THƯỞNG VÀ KHIỂN TRÁCH
1/ Xếp hạng : Tổ hạng nhất Tuần là tổ có tổng điểm cao nhất tuần. Tổ hạng nhất HK là tổ có số tuần xếp hạng Nhất cao nhất.( Nếu có 2 tổ có số tuần xếp hạng Nhất bằng nhau thì so các tuần được xếp hạng hạng nhì, ba)
2/ Xếp hạng thi đua Tổ là căn cứ để khống chế tỉ lệ xếp loại HK Tốt của HS trong tổ. Cụ thể như sau:
Tổ xếp hạng Nhất: Tỉ lệ HK Tốt  của tổ từ 80%  đến 100%
Tổ xếp hạng Nhì : Tỉ lệ HK Tốt  của tổ là từ 60% đến dưới 80%
Tổ xếp hạng Ba: Tỉ lệ HK Tốt của tổ từ 40% đến dưới 60%.
Tổ xếp hạng Tư: Tỉ lệ HK Tốt của tổ từ 20 đến dưới 40%
Phụ lục 1:  QUI CHUẨN XẾP LOẠI HẠNH KIỂM
I. Căn cứ xếp loại Hạnh kiểm:
Căn cứ để xếp loại HK học sinh là “Điều lệ trường PTTH” của Bộ GD&ĐT và Nội qui của trường THPT Tôn Đức Thắng . Các HS vi phạm Điều lệ và Nội qui sẽ bị đưa ra phê bình, kiểm điểm trước tập thể lớp và toàn trường. GVCN và Ban cán sự lớp sẽ căn cứ vào số lần vi phạm và mức độ vi phạm để xếp loại HK của HS. Cụ thể như sau:
1/ Xếp loại HK Tốt:
+ HS không bị đưa ra phê bình, kiểm điểm trước lớp.
+ Có số ngày nghỉ có phép không quá 4 ngày/HK.
2/ Xếp loại HK Khá:
+ HS có 1 lần bị đưa ra kiểm điểm hoặc 2 lần bị phê bình trước lớp.
+ Có số ngày nghỉ có phép không quá 6 ngày/HK.
3/ Xếp loại HK TB:
+ HS có 1 lần bị phê bình trước toàn trường.
+ HS có 2 lần bị đưa ra kiểm điểm hoặc 4 lần bị phê bình trước lớp.
+ Có số ngày nghỉ có phép không quá 10 ngày/HK.
3/ Xếp loại HK Yếu:
+ HS bị đưa ra Hội đồng kỉ luật nhưng chưa đến mức độ bị đuổi học.
+ HS vi phạm trong kiểm tra tập trung, thi HK (bị lập biên bản)
+ HS có 2 lần bị phê bình trước toàn trường.
+ HS có 3 lần kiểm điểm hoặc 6 lần bị phê bình trước lớp.
+ Có số ngày nghỉ có phép từ 10 ngày trở lên/HK.
II. Các mức độ vi phạm phải làm phê bình, kiểm điểm trước lớp:
1/ Mức độ kiểm điểm:
+ Vắng không phép hoặc đơn xin phép không hợp lệ, cúp tiết.
+ Vi phạm tác phong: đồng phục, tóc tai, dép lê, phù hiệu…
+ Vô lễ với người lớn hoặc có hành vi xấu (gian lận, làm hư hại tài sản, làm mất vệ sinh trường lớp…)
+ Không thuộc bài (kiểm tra miệng bị điểm 2 trở xuống), không soạn bài và làm bài tập.
+ Không chấp hành qui định và sự phân công của GV và Ban cán bộ lớp.
+ Gây mấy trật tự, nói chuyện, làm việc riêng, không tập trung, không ghi chép… trong giờ học bị GV nhắc nhở.
2/ Mức độ phê bình:
+ Có hành vi hoặc lời nói khiếm nhã với bạn bè.
+ Chưa thuộc bài (KTM bị điểm 3 ,4), có soạn bài và làm bài tập nhưng chưa đầy đủ, nghiêm túc.
+ Gây mất trật tự, nói chuyện trong 15 phút sinh hoạt đầu giờ hoặc trong giờ học nhưng chưa đến mức bị GV nhắc nhở.
+ Chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao.
+ Vào lớp trễ (15 phút đầu giờ, đầu tiết học).
·              Ghi chú:
+ Những HS bị kiểm điểm 3 lần trước lớp (2 lần phê bình = 1 lần kiểm điểm) mà không có sự tiến bộ thì GVCN và Ban cán bộ lớp sẽ xem xét để đề nghị đưa ra Hội đồng kỉ luật của trường.
+ Những HS bị phê bình, kiểm điểm về  mặt học tập (không thuộc bài) nếu như có sự tiến bộ trong tuần ( KT M các lần sau đạt điểm 8 trở lên, tích cực phát biểu xây dựng bài…) sẽ được xem xét để xóa kiểm điểm trong tuần đó.
+ HS nghỉ học do nằm viện trị bệnh có giấy của bệnh viện thì số ngày nghỉ đó không tính vào việc xếp loại HK.
 

Chuyên đề 11: BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỌC SINH

Thực hiện:  GV Phan Danh Hiếu
Đơn vị: TH, THCS & THPT Bùi Thị Xuân
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
I. Lý do chọn đề tài
Giáo viên chủ nhiệm là một người làm quản lý giáo dục dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng, là người chịu trách nhiệm về sự tiến bộ của học trò về học tập và rèn luyện nhân cách, phẩm chất đạo đức. Học trò có tiến bộ hay không, lớp có ngoan hay không ? Ngoài trách nhiệm của giáo viên bộ môn ra thì trách nhiệm của người Giáo viên chủ nhiệm có thể nói là quan trọng nhất.
Có nhiều người quan niệm rằng: giáo viên chủ nhiệm phải là người dạy các môn chính và phải là người có năng lực chuyên môn thật giỏi thì mới có sức thuyết phục học sinh. Xin thưa, đây là một quan niệm sai lầm bởi giáo viên có năng lực chuyên môn tốt chưa chắc đã là người có khả năng chủ nhiệm tốt. Ngược lại, có giáo viên chỉ dạy các môn phụ như: Công dân, Thể dục, Công nghệ… nhưng sự chinh phục và dạy dỗ học trò  của chính những giáo viên đó luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Chủ nhiệm là một nghệ thuật – nghệ thuật quản lý và nghệ thuật giáo dục. Mà đã là nghệ thuật thì chẳng dễ chút nào. Vẫn còn có những giáo viên đã hơn hai mươi năm kinh qua công tác chủ nhiệm nhưng có lúc lại bất lực trước một cậu học trò cá biệt. Có lúc lại thiếu kiềm chế trước một học trò nhiều lần không thuộc bài. Hay mấy năm gần đây các trang mạng và báo chí đang lên án tình trạng Bạo lực học đường gây nhức nhối cho toàn xã hội. Tất cả đều đổ lỗi cho giáo dục. Và rồi cuối cùng thì cũng là giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm đầu tiên. Xã hội càng hiện đại thì những giá trị cổ truyền càng ngày càng mai một. Nguy hiểm nhất là nó đang làm băng hoại đi đạo đức của một bộ phận giới trẻ trong đó có những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường. Như vậy, đâu đó vẫn còn có những vấn đề nan giải mà không phải ai cũng giải quyết được một cách thành công.
Sau gần 7 năm làm công tác chủ nhiệm, qua thực tế công việc và qua học tập kinh nghiệm đồng nghiệp tôi xin đưa ra một số vấn đề thường gặp trong công tác quản lý mà bất kỳ giáo viên nào cũng trải qua. Đó là những công tác như: Làm thế nào để học sinh nể phục, kính trọng và tin yêu vào Giáo viên chủ nhiệm? Làm sao cảm hóa được học sinh cá biệt, học sinh chưa ngoan? Làm sao hạn chế được việc học sinh nghỉ học, đi trễ ? Làm sao để học sinh yếu kém có cơ hội tiến bộ? Tổ chức cán sự lớp, cán bộ Đoàn thế nào là hiệu quả?...
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1.           Làm thế nào để học sinh nể phục, kính trọng và tin yêu vào Giáo viên chủ nhiệm?
Mỗi thầy, cô đều phải là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Nhưng đối với giáo viên chủ nhiệm (GVCN), yêu cầu đó được đặt ra với mức độ cao hơn, toàn diện hơn. Không những phải tạo được sự ngưỡng mộ ở các em, GVCN còn là nơi để các em chia sẻ những buồn vui, một chỗ dựa tinh thần vững vàng cho các em trong cuộc sống.
Yêu cầu về phẩm chất
GVCN cần có một nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vị trí, yêu cầu đối với chính bản thân mình và công việc. Không chỉ trang bị cho mình những kiến thức cần thiết cho việc giảng dạy, những vốn sống sâu sắc về con người, cuộc đời… người GVCN còn cần phải rèn luyện cho chính mình đạt những phẩm chất đạo đức có tính chuẩn mực để trên cơ sở đó, mới có thể nhắc nhở, uốn nắn học sinh. Từ hành vi, ngôn ngữ, cách cư xử, cách suy nghĩ, đánh giá những sự việc trong cuộc sống, những thói quen trong sinh hoạt… tất cả luôn cần được người GVCN tự xem xét, điều chỉnh để có thể không ngừng hoàn thiện mình trong mắt học trò. Đơn giản một sự việc là, khó có thể yêu cầu các em gọn gàng, ngăn nắp, sống đẹp nếu bản thân người GVCN chưa là một “hình mẫu” đối với các em.
Cần nhận thức rõ, giáo dục một con người là một quá trình không có điểm cuối cùng. Đó là công việc kéo dài cả một đời người chứ không phải là chuyện của ngày một, ngày hai. Vì thế, người GVCN không bao giờ được chủ quan, nóng vội. Một câu nói vô tình, một trách phạt nôn nóng, một hành xử thiếu cân nhắc đôi khi gây tổn thương và - biết đâu đó - các em sẽ mang theo vết thương kia thành một ám ảnh khôn nguôi!... Trước mọi sai lầm, vi phạm của học sinh GVCN cần hết sức bình tĩnh, bao dung và độ lượng để xem xét, giải quyết, xử lý vấn đề, trên hết là phải CÔNG BẰNG.
Một sự định hướng đúng đắn sẽ giúp các em hình thành tính cách của mình mai này, là điều hết sức quan trọng khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường. Không chỉ truyền đạt kiến thức trong học tập, các em cần được trao đổi mọi điều về chính bản thân, về những gì chân - thiện - mỹ trong cuộc sống. Muốn thành công giáo viên chủ nhiệm cần có  cái “Tâm” . Không có một tấm lòng, mọi công việc sẽ chỉ là hình thức. Và như vậy, yêu thương chăm sóc các em không chỉ là mệnh lệnh mà còn là một nhu cầu không thể thiếu của trái tim người thầy.
2.           Tổ chức cán sự lớp, cán bộ Đoàn thế nào là hiệu quả?
·              Thông thường mọi GVCN thường lấy cán bộ lớp thông qua điểm số. Thấy em nào điểm cao thì chọn lựa rồi sắp xếp chức vụ. Có giáo viên thì nhờ GVBM giới thiệu. Bản thân tôi thì có cách lựa chọn riêng. Cán bộ lớp chưa cần phải là nguời học giỏi, có thể chỉ cần TB khá trở lên Khá nhưng phải thực sự  là những học sinh có phẩm chất đạo đức nhân cách tốt. Vào đầu năm học, đừng nên nóng vội bầu chọn cán sự, nên để một thời gian ngắn theo dõi và đánh giá năng lực học sinh rồi mới có sự cân nhắc, chọn lựa.
·              Tập cho các em có tính khách quan, công bằng, trung thực trong báo cáo, không soi mói bạn bè, không tố cáo bạn bè để  “ăn điểm” của giáo viên chủ nhiệm. Khi GV vắng mặt thì các em có thể quản được lớp.
·              Công việc của Lớp trưởng: Bao quát công việc chung của lớp, theo dõi tình hình chung của lớp và  theo dõi hoạt động học tập trong tuần từ các tổ trưởng để tham mưu với GVCN kịp thời xử lý, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các cán sự lớp, kiểm tra cơ sở vật chất của lớp, giám sát tổ trực nhật làm vệ sinh, tắt đèn quạt, đóng cửa sổ khi ra khỏi phòng học.
·              Lớp phó:
 + Ghi nhận những bạn thuộc bài, không thuộc bài, không soạn bài, không làm bài tập hoặc làm việc riêng báo cáo cho GVCN vào từng buổi học để kịp thời xử lí.
 + Tổng hợp những bạn có điểm số yếu kém của lớp báo cho GVCN vào đầu tháng.
 + Tổ chức truy bài theo phân công của GVCN.
·              Tổ trưởng
Điều hành công việc chung, theo dõi, đôn đốc các hoạt động hằng ngày của tổ về việc thực hiện nội quy, học tập, theo dõi, điều hành công việc thuộc về : vệ sinh môi trường…theo dõi các tập vở của tổ trong 15 phút đầu giờ. 
3.           Làm sao cảm hóa được học sinh cá biệt, học sinh chưa ngoan?
Đối với học sinh cá biệt: Giáo viên cần tìm hiểu từng hoàn cảnh, nguyên nhân để có cách giải quyết phù hợp. Tuyệt đối không được nóng vội, không vì thành kiến dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Tạo điều kiện để các em trình bày suy nghĩ của mình, giúp các em giãi bày tâm sự, từ đó từng bước giúp các em hòa nhập cùng tập thể. Chính sự thân thiện, gần gũi, thái độ quan tâm của thầy cô sẽ là động lực lớn cho các em có được niềm tin.
Vừa DẠY vừa DỖ:  Đừng nghĩ học sinh cá biệt, bộ mặt lúc nào cũng bất cần đời là có “trái tim sắt  đá”. Nếu nhìn bằng đôi mắt yêu thương, ta sẽ thấy núp dưới vẻ mặt lạnh lùng, vô cảm là sự hụt hẫng tình thương. Phải là những thầy cô giáo chủ nhiệm giàu kinh nghiệm, có cách đối nhân xử thế bao dung, vị tha, kiên nhẫn mới đem đến cho các em hơi ấm của tình người, để các em biết sự ngỗ nghịch của mình là một sai lầm lớn. Vừa giáo dục các em nhưng lại vừa đóng vai bậc làm cha làm mẹ, làm chị làm anh để “dỗ dành”, chắc chắn các em sẽ thay đổi, hoặc ít ra cũng nhận thức được những sai sót của mình.
Kiên trì tạo niềm tin:  Để điều hành được học sinh “cá biệt”, người thầy phải sắm đủ các vai. Khi thì nhà mô phạm nghiêm khắc, lúc lại là cái vai cho các em gục đầu vào. Khi thì nhà tâm lý, lúc lại là bác sĩ trị liệu, khi thì ông trọng tài, lúc khác lại là người cố vấn... Cứ như thế, kiên trì cho đến khi các em tự nhận ra tại sao mình phải thay đổi.
Biết chấp nhận và yêu thương: (Theo Vietnamnet.vn) Frank McCourt, một thầy giáo người Mỹ (được phong tặng danh hiệu Nhà giáo của năm), trong hồi ức “Người thầy” đã kể: Trường hướng nghiệp nơi thầy dạy được xem là “bãi rác” cho những học sinh không đủ trình độ vào trường trung học bình thường. Ngày nhận lớp cũng là ngày thầy đứng quan sát chúng quậy phá, la ó... đủ kiểu. Cao điểm là lấy bánh mì ném nhau và một học sinh lên tiếng: “Để xem tay thầy giáo mới này sẽ làm gì?”.
Frank McCourt nói ông cố nghĩ về những kiến thức được học ở Trường ĐH Sư phạm New York để tìm cách đối phó. Tiếc là chỉ có những triết lý giáo dục, các mệnh lệnh đạo đức và luân lý, mà không có cách giải quyết tình huống... “ném bánh mì”. Cuối cùng, ông quyết định... ăn chiếc bánh. Ông viết: “Đó là hành xử đầu tiên của tôi trong lớp. Cái miệng đầy bánh của tôi thu hút sự chú ý của cả lớp. Chúng trố mắt nhìn tôi đầy nét thán phục... Tôi nghĩ, tôi đã nắm được chúng trong tay...”.
Trái tim nhân ái: Với học sinh cá biệt, giáo viên không nên xử phạt cứng nhắc, càng không nên dùng những lời lẽ nặng nề, xúc phạm mà nên dùng thái độ ân cần, quan tâm, tạo cho các em có một cảm giác an toàn, tin tưởng. Cũng đừng nói nhiều, vì nói nhiều đâm ra nhàm chán, hãy thể hiện bằng hành động yêu thương.
Với một học sinh lười, một học sinh cá biệt… chúng ta không nên ảo tưởng là các em sẽ tiến bộ ngay sau vài lần nhắc nhở hay xử phạt của GVCN. Có khi, các em vẫn tiếp tục lười, tiếp tục phạm lỗi lầm với mức độ liên tục hơn, nghiêm trọng hơn - như một cách thách thức, một cách khẳng định mình với bạn bè, với thầy cô, với mọi người. Chính ở những khoảnh khắc này, người GVCN cần thể hiện rõ bản lĩnh và năng lực sư phạm - trong đó - có cả năng lực chịu đựngcủa mình. Chịu đựng những vi phạm cố tình, những thách thức nông nổi và chịu đựng cả những nỗi bực bội, tức giận đang phải dồn nén trong người. Cần tạo được ở các em, trước hết là sự tôn trọng và sau đó là một sự gần gũi, cảm thông.
4.           Làm sao hạn chế được việc học sinh nghỉ học, đi trễ?
·              Học sinh nghỉ học thường có những nguyên nhân sau:
-              Ốm đau.
-              Lười học, bài vở nhiều, biết hôm nay GV khảo bài nên giả vờ đau ốm rồi nghỉ học.
-               Trốn học đi chơi, la cà hàng quán.
Hậu quả: Mất bài học, không tiếp thu được kiến thức, bài kiểm tra điểm kém.
·              Biện pháp khắc phục
Đây là một vấn đề nan giải không thể giải quyết nhanh chóng mà cần phải có thời gian:
- Về phía GVCN:
Cần có tác phong làm việc “đi sớm về trễ”, chuyên cần dạy học, không đi trễ không nghỉ dạy. Lúc nào cũng có mặt sớm nhất ở lớp. Tác phong này của người GV cộng với công tác giáo dục của GV chắc chắn sẽ làm thay đổi suy nghĩ của học trò.
Thứ hai, sử dụng chiến thuật “Mưa dầm thấm đất”, luôn luôn nhắc nhở và giáo dục các em đi học chuyên cần (Ngày nào cũng nhắc các em vào cuối buổi học). Chỉ cho các em thấy hậu quả hết sức nguy hiểm do việc nghỉ học bừa bãi mang lại như: Hạnh kiểm, học lực giảm sút và cuối cùng là lưu ban hoặc lớp 12 thì bị cấm thi Tốt nghiệp.
Thứ ba, “ám thị” việc nghỉ học là do sự lười biếng của bản thân từ đó quy kết trách nhiệm và “trọng tội” cho những học sinh nào nghỉ học đều thuộc hạng học sinh trên. Điều này đánh mạnh vào tim đen của một số học sinh, chạm vào lòng tự trọng… chắc chắn sẽ bớt nghỉ học đi nhiều.
Liên kết chặt chẽ với phụ huynh. Thấy học sinh chưa tới lớp đúng giờ quy định lập tức điện thoại về nhà thông báo việc học sinh chưa tới lớp. Đồng thời phối hợp phụ huynh kịp thời răn đe, giáo dục.
Nếu có học sinh nghỉ học GV cần gặp gỡ học sinh nghỉ học để tìm hiểu nguyên nhân và nhắc nhở các em đi học đầy đủ.
- Về phía cán bộ lớp và các thành viên của Tổ: Nếu thấy bạn mình nghỉ học thì cùng nhau đến nhà hỏi thăm để biết nguyên nhân, khuyên răn bạn, nếu cần thiết thì báo với PH.
5.           Làm sao để học sinh yếu kém có cơ hội tiến bộ
Ông Lê Minh Hoàng, Giám đốc Sở GD-ĐT Đồng Nai cho rằng: "Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc vực dậy học sinh yếu, kém, bởi đây là đội ngũ theo dõi, nắm sát hoàn cảnh, năng lực của học sinh nhất. Giáo viên chủ nhiệm cũng là cầu nối với phụ huynh học sinh nên nâng cao trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm đối với học sinh yếu, kém sẽ là giải pháp quan trọng giúp giảm bớt tình trạng học sinh bỏ học".
Các biện pháp phụ đạo học sinh yếu kém:
Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh. Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gũi, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập. Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gũi giúp đỡ em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu.
Kèm cặp học sinh yếu kém:
-         Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém của lớp mình để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng…
-              Cho học sinh khá ngồi cùng bàn để kèm cặp và báo lại kết quả cho GVCN.
6.           Một số biện pháp giáo dục khác!
-              Kết hợp chặt chẽ với GV bộ môn.
-              Kết hợp chặt chẽ với Phụ huynh học sinh.
-              Dùng tình yêu thương để chinh phục học trò.
-              Cho các em cơ hội tiến bộ.
PHẦN III. KẾT LUẬN:
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ đã được đúc rút từ những năm làm công tác chủ nhiệm. Tôi đã áp dụng và đạt được những thành công không nhỏ. Chung quy lại, Giáo dục học sinh là một công việc khó đòi hỏi sự kiên trì và nhẫn nại. Phương pháp chỉ là sự hỗ trợ nhỏ, vốn sống của người giáo viên và xuất phát từ tình hình thực tế công việc chính là điều làm nên sự thành công của người giáo viên chủ nhiệm. Hãy dùng tình yêu thương và trách nhiệm, dùng cái TÂM của mình vào công việc chắc chắn chúng ta sẽ THÀNH CÔNG.
 

Chuyên đề 12: BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

Thực hiện:GV Bùi Thị Thu Vân
Đơn vị: THPT Điểu Cải
Bạo lực học đường không phải là vấn đề mới nhưng thời gian gần đây mang tính chất phức tạp và nguy hiểm. Phần lớn học sinh có ý thức đạo đức tốt, chủ động tích cực trong học tập và rèn luyện, trở thành con ngoan, trò giỏi …Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh chưa nhận thức và có hành vi đúng đắn, thích thể hiện bản thân một cách thái hóa, thiếu khả năng kiềm chế và ứng xử. Từ những mâu thuẫn tưởng chừng như hết sức đơn giản nhưng trong phút chốc những học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường lại trở thành những hung thủ của các vụ án mạng nghiêm trọng. Đây là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Vì thế với vai trò là giáo viên chủ nhiệm chúng ta cần phải có những biện pháp cụ thể như sau:
1/Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng, quản lý toàn diện học sinh, do đó để làm tốt việc này đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải nắm rõ về đặc điểm tình hình của lớp thông qua giáo viên chủ nhiệm cũ. Đây là dịp để kiện toàn lại đội ngũ cán bộ trong lớp, bổ sung những cái chưa làm được và phát huy những mặt mạnh mà lớp đã có. GVCN cần trao đổi với giáo viên bộ môn về tình hình của lớp, trao đổi với ban giám hiệu, thầy cô giám thị, cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin từ đó có một phương pháp chủ nhiệm tốt với một kế hoạch toàn diện và hợp lý. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả. Bên cạnh đó GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trau dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.
2/GVCN không ngừng cải tiến các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hàng tuần và các hoạt động tập thể thông qua đó để nắm bắt diễn biến tâm lý học sinh, từ đó có biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh hiệu quả hơn. Để học sinh nhận thức được các vấn đề có liên quan trong giờ sinh hoạt, GVCN cho học sinh tự đánh giá ưu khuyết điểm và tự đánh giá kết quả (theo mẫu), GVCN kết thông qua đó cần nêu bật những mặt tốt mà các em đã làm được để khích lệ học sinh vươn lên hơn nữa và động viên các em khác noi theo đồng thời phê phán những cái xấu và đẩy lùi những tồn tại. Khi phê phán cần phải thận trọng và đúng mực, giáo viên phải lắng nghe ý kiến của các em, phải phân tích khuyết điểm lỗi lầm của các em mắc phải cho đến khi các em chấp nhận một cách tự nguyện, có như thế mới sửa sai được và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến học sinh.Trong nội dung của mỗi buổi sinh hoạt nên đưa vào một gương điển hình về sự vượt khó trong học tập, gương thành đạt trong cuộc sống để các em tự suy nghĩ và vận dụng vào cuộc sống của mình; luôn động viên học sinh tham gia vào các hoạt động của nhà trường vì đây là sân chơi bổ ích giáo dục cho học sinh biết sống tập thể, vì mọi người xây dựng lòng tự hào về tập thể lớp trong học sinh.
3/Giáo viên chủ nhiệm với vai trò là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của tập thể học sinh đồng thời là một nhà tư vấn tâm lý: học sinh THPT là những em ở lứa tuổi đang khẳng định mình, giàu ước mơ, có khả năng tự quản, tổ chức hoạt động tập thể …Tuy nhiên  lứa tuổi chưa có đủ kinh nghiệm do đó khi thành công thì tự tin quá mức, ngược lại khi thất bại thì dễ chán nản và không có ý chí vươn lên. Vì vậy chức năng cố vấn có ý nghĩa giáo dục quan trọng nhất đối với GVCN. Bằng nghệ thuật sư phạm, GVCN kích thích tư duy sáng tạo ở học sinh, phát năng trí tuệ vốn có của từng em trong học tập, đề xuất các nội dung, các giải pháp, cách tổ chức hoạt động thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà trường; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức qui định. GVCN phải quán triệt toàn diện nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt động của lớp, của cán sự lớp chủ nhiệm bao gồm: học tập, rèn luyện đạo đức, văn hóa, thể dục thể thao, sinh hoạt tập thể, hoạt động chính trị xã hội, quan hệ giao tiếp …. diễn ra trong nhà trường và ngoài xã hội.
Bên cạnh đó GVCN phải thường xuyên trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, sở thích của học sinh. Khi trò chuyện với học sinh cần phải có thái độ chân thành và cởi mở. Biết lắng nghe những băn khoăn, trăn trở tâm tình của học sinh. Hãy coi học trò là những người bạn để chia sẻ, để đồng cảm để từ đó mới có thể phác họa được chân dung đời sống tâm hồn của học sinh. Song, cũng phải chống lại tư tưởng “Cá mè một lứa”.
4/ Phối hợp giữa GVCN với gia đình, giáo viên bộ môn, các thầy cô trong các phòng ban trong nhà trường và xã hội
4.1. Mối quan hệ với cha mẹ học sinh: việc kết hợp với cha mẹ học sinh để cùng nhau giáo dục học sinh cũng không kém phần quan trọng. Phải làm cho cha mẹ học sinh tin tưởng nhà trường, thấy việc gởi con mình vào trường là quyết định đúng. Mối quan hệ này được thể hiện qua các buổi họp giữa GVCN với cha mẹ học sinh; tạo được uy tín vững vàn, bản lĩnh trong buổi họp đầu năm. GVCN sẽ thông báo những văn bản, thông tư, nội quy trường đến cha mẹ học sinh. Họp bàn bạc để đi đến thống nhất ý kiến, từ đó cha mẹ học sinh sẽ đồng tình ủng hộ GVCN trong việc giáo dục con mình
4.2.Mối quan hệ với giáo viên bộ môn: Tạo điều kiện hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên bộ môn và học sinh, thường xuyên nhắc nhở học sinh tôn trọng tất cả các thầy cô giáo, nhất là các thầy cô giáo trẻ; kiên quyết xử lý những học sinh vô lễ, thiếu tôn trọng thầy cô, chây lười trong học tập. Khi được thông báo học sinh vi phạm, GVCN luôn lắng nghe thông tin từ hai phía mới có hướng  giáo dục tốt; tạo điều kiện để giáo viên bộ môn có thể hiểu được tình hình lớp dẫn đến thông cảm, thương yêu, đối xử công bằng với học sinh; truyền đạt những nhận xét của giáo viên bộ môn đến học sinh (khen – chê) để các em rút kinh nghiệm phấn đấu .
43.Mối quan hệ với các thầy cô phụ trách các phòng ban trong trường: Đề xuất với ban giám hiệu để xử lý khi học sinh vi phạm; thường xuyên trao đổi với thầy cô giám thị để nắm tình hình học sinh lớp mình chủ nhiệm; kết hợp chặt chẽ với các phòng ban như phòng học vụ để nắm các giấy tờ cần thiết liên quan đến học sinh của mình, thông báo học sinh bổ túc kịp thời 
4.4.Mối quan hệ với các lực lượng xã hội: liên kết các lực lượng xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ là một nguyên tắc nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, để thực hiện tốt chức năng phối hợp lực lượng xã hội không chỉ dừng ở nhận thức, mà quan trọng hơn cả là xây dựng được chương trình hoạt động nhằm thống nhất, khép kín quá trình hoạt động, không gian và thời gian tác động đến học sinh của lớp chủ nhiệm .
5/GVCN tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh.
5.1. Đánh giá một quá trình “nghiêm túc - khoa học”. Hãy đánh giá đúng khả năng học tập, rèn luyện của học sinh; đừng vì “Bệnh thành tích thi đua, tỷ lệ yếu kém” … mà làm qua loa, bình quân trong đánh gía xếp loại học sinh .
5.2.Với những học sinh cá biệt cần quan tâm, thường xuyên theo dõi và liên lạc chặt chẽ với PHHS để có biện pháp giáo dục kịp thời. Cần có những biện pháp cứng rắn kiên quyết, đồng thời phải gần gũi, tìm hiểu hoàn cảnh để giúp các em tránh những suy nghĩ lệch lạc về bản thân, tạo niềm tin, chỗ dựa tinh thần cho các em phấn đấu sửa chữa, vươn lên thành người tốt.
5.3. Với quá trình xử lý:  Cần thực hiện đúng nội dung Thông tư số: 08/ TT ngày 21/03/1988 của Bộ GD & ĐT Hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh, đảm bảo nguyên tắc cơ bản.Phải tiến hành “Kịp thời, chính xác, công bằng, đúng trình tự quy định”; lấy giáo dục làm chính, tránh  xu hướng chỉ xử lý phát hiện những sai trái và kỷ luật mà không dành thời gian để định hướng, uốn nắn, giúp học sinh tự giác thực hiện; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, phát huy ưu điểm, bồi dưỡng những nhân tố tích cực để khắc phục những thiếu sót của những nhân tố tiêu cực. Cần tạo dư luận đúng đắn trong nhà trường và ngoài xã hội, để “ủng hộ cái tốt, phê phán cái xấu”. Có lúc cần phải kiên quyết xử lý kỷ luật, bằng những hình thức thích hợp: đình chỉ học tập hoặc cao hơn…điều mà nhà Giáo dục không muốn, nhưng là cần thiết để đảm bảo tính nghiêm khắc - kỷ cương của nhà trường, của pháp luật xã hội đối với những học sinh vi phạm
5.4. Với quá trình sau xử lý: Sau khi xử lý học sinh vi phạm, cần có kế hoạch theo dõi, phối hợp với phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương tạo cho học sinh phấn đấu sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ.
Việc khen thưởng và kỷ luật đối với học sinh được thực hiện đúng đắn sẽ góp phần tích cực vào việc cũng cố và phát triển phong trào thi đua 2 tốt: “Dạy tốt – Học tốt” và thực hiện hiệu quả cuộc vận động 2 không: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” trong mỗi nhà trường.
Kính thưa quý vị đại biểu và toàn thể hội nghị!
Trước thực trạng đạo đức của học sinh hiện nay có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, tình trạng bạo lực học đường gia tăng một cách đáng báo động. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải hướng đến thế hệ tương lai với tinh thần trách nhiệm và tình yêu thương cao cả. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội do đó ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức, xây dựng cho các em hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức.
Song để làm tốt điều này trước hết người giáo viên phải vừa như người mẹ dịu dàng, người thầy nghiêm khắc, người bạn gần gũi, trọng tài phân minh. Phải làm cho học sinh tôn trọng, kính yêu, tin tưởng, là xây dựng được một tập thể lớp đoàn kết, gắn bó. Muốn đạt được điều đó, mọi hành động của giáo viên phải xuất phát từ tình thương yêu học sinh như con em mình, phải giáo dục học sinh bằng tình cảm. Giáo viên chủ nhiệm phải phát huy được vai trò cố vấn cho học sinh, phát huy được tính sáng tạo của các em, vai trò chỉ đạo và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động của lớp cùng với sự hỗ trợ đắc lực của ban cán sự lớp. Bên cạnh đó giáo dục đạo đức học sinh còn phụ thuộc vào những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức như sau:
Ø                 Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường
Ø                 Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Tuy nhiên do thời gian có hạn, các biện pháp đưa ra chưa có tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta hạn chế được tình trạng bạo lực học đường của học sinh trong giai đoạn hiện nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và hạn chế tình trạng bạo lực học đường.
Cuối cùng, kính chúc quý vị đại biểu dồi dào sức khỏe, hạnh phúc; chúc hội nghị thành công tốt đẹp.
 

Tác giả bài viết: Sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn